Tin chuyên môn |#ffcc00

Tin chuyên môn |#ffcc00 (84)

Thứ tư, 08 Tháng 7 2020 09:16

Bệnh bạch hầu và các biện pháp phòng chống

Written by

Bệnh bạch hầu và các biện pháp phòng chống

BỆNH BẠCH HẦU (Diphteria) ICD-10 A36: Diphtheria

(Bệnh bạch hầu thuộc nhóm B trong Luật Phòng, chống bệnh truyền nhiễm)

1. Đặc điểm của bệnh

1.1. Định nghĩa ca bệnh: Bệnh bạch hầu là bệnh nhiễm khuẩn cấp tính có giả mạc ở tuyến hạnh nhân, hầu họng, thanh quản, mũi. Bệnh có thể xuất hiện ở da, các màng niêm mạc khác như kết mạc mắt hoặc bộ phận sinh dục. Đây là một bệnh vừa nhiễm trùng vừa nhiễm độc và các tổn thương nghiêm trọng của bệnh chủ yếu là do ngoại độc tố của vi khuẩn bạch hầu gây ra.

- Ca bệnh lâm sàng:

+ Viêm họng, mũi, thanh quản. Họng đỏ, nuốt đau. Da xanh, mệt, nổi hạch ở dưới hàm làm sưng tấy vùng cổ.

+ Khám thấy có giả mạc. Cần phân biệt tính chất của giả mạc bạch hầu với giả mạc mủ. Giả mạc bạch hầu thường trắng ngà hoặc mầu xám dính chặt vào xung quanh tổ chức viêm, nếu bóc ra sẽ bị chảy máu. Cho giả mạc vào cốc nước dù có khuấy mạnh cũng không tan. Còn giả mạc mủ thì sẽ bị hoà tan hoàn toàn trong cốc nước. Vùng niêm mạc xung quanh giả mạc bị xung huyết.

+ Bạch hầu thanh quản là thể bệnh nặng ở trẻ em. Biểu hiện lâm sàng bị nhiễm ngoại độc tố bạch hầu tại chỗ là giả mạc và biểu hiện toàn thân là nhiễm độc thần kinh, làm tê liệt thần kinh sọ não, thần kinh vận động ngoại biên và thần kinh cảm giác và/hoặc viêm cơ tim. Tỷ lệ tử vong khoảng 5% - 10%.

- Ca bệnh xác định: Phân lập vi khuẩn bạch hầu dương tính từ mẫu bệnh phẩm lâm sàng.

1.2. Chẩn đoán phân biệt với một số bệnh tương tự: Cần lưu ý phân biệt với bệnh viêm họng có giả mạc mủ khác hoặc viêm amydan có hốc mủ.

1.3. Xét nghiệm

- Loại mẫu bệnh phẩm: Ngoáy họng lấy chất dịch nhầy ở thành họng hoặc giả mạc tại chỗ viêm.

- Phương pháp xét nghiệm:

+ Thường chỉ dùng phương pháp soi kính hiển vi: Làm tiêu bản nhuộm Gram soi kính hiển vi; trực khuẩn bắt màu Gram (+), hai đầu to. Hoặc nhuộm Albert; trực khuẩn bắt màu xanh.

+ Có thể phân lập vi khuẩn bạch hầu trên môi trường đặc hiệu nhưng chậm có kết quả, ít khi dùng phương pháp tìm kháng thể trong máu bệnh nhân.

2. Tác nhân gây bệnh

- Tên tác nhân: Corynebacterium diphtheriae thuộc họ Corynebacteriaceae. Vi khuẩn bạch hầu có 3 týp là Gravis, Mitis và Intermedius.

- Hình thái: Hình thể vi khuẩn đa dạng, gram (+). Điển hình là trực khuẩn có một hoặc 2 đầu phình to nên còn gọi là trực khuẩn hình chuỳ, dài 2-6 µm, rộng 0,5-1µm. Không sinh nha bào, không di động.

- Khả năng tồn tại trong môi trường bên ngoài:

+ Vi khuẩn có sức đề kháng cao ở ngoài cơ thể và chịu được khô lạnh. Nếu được chất nhày bao quanh bảo vệ thì vi khuẩn có thể sống trên đồ vật vài ngày đến vài tuần; trên đồ vải có thể sống được 30 ngày; trong sữa, nước uống sống đến 20 ngày; trong tử thi sống được 2 tuần.

+ Vi khuẩn bạch hầu nhạy cảm với các yếu tố lý, hoá. Dưới ánh sáng mặt trời trực tiếp, vi khuẩn sẽ bị chết sau vài giờ, ánh sáng khuyếch tán sẽ bị diệt sau vài ngày. Ở nhiệt độ 580C vi khuẩn sống được 10 phút, ở phenol 1% và cồn 60 độ có thể sống được 1 phút. Chuột lang có cảm nhiễm cao đối với vi khuẩn bạch hầu.
+ Bản chất của ngoại độc tố bạch hầu là một protein có tính kháng nguyên đặc hiệu, độc tính cao, không chịu được nhiệt độ và focmol. Ngoại độc tố của các typ vi khuẩn bạch hầu đều giống nhau. Ngoại độc tố khi được xử lý bằng nhiệt độ và focmol sẽ mất độc lực, được gọi là giải độc tố (anatoxine) dùng làm vắc xin.
3. Đặc điểm dịch tễ học

- Bệnh bạch hầu lưu hành rộng rãi ở mọi nơi trên thế giới và đã gây nên các vụ dịch nghiêm trọng, nhất là ở trẻ em trong thời kỳ chưa có vắc xin dự phòng. Năm 1923, vắc xin giải độc tố bạch hầu ra đời và từ đó đến nay tính nghiêm trọng của bệnh dịch đã thay đổi trên toàn thế giới.

- Bệnh bạch hầu thường xuất hiện trong những tháng lạnh ở vùng ôn đới. Bệnh có tính mùa, thường tản phát, có thể phát triển thành dịch nhất là ở trẻ dưới 15 tuổi chưa được gây miễn dịch đầy đủ.

- Một sự kiện đáng lưu ý là do những biến động xã hội ở một số nước như Nga, Ucraina v.v... đã làm gián đoạn việc tiêm chủng vắc xin bạch hầu cho trẻ em trong những năm 80 của thế kỷ trước. Do đó, bệnh bạch hầu đã phát triển và bùng nổ thành dịch lớn ở những nước này trong những năm 90 của thế kỷ 20. Ví dụ năm 1994 ở Nga đã có hơn 39.000 người mắc bạch hầu với 1.100 người chết và ở Ucraina có hơn 3.000 người mắc. Tuổi mắc bệnh chủ yếu là trên 15 tuổi.
- Ở khu vực Tây Thái Bình Dương, hiện nay số mắc bệnh bạch hầu hàng năm đã giảm rõ rệt do hiệu quả của việc tiêm phòng vắc xin bạch hầu cho trẻ em được thực hiện có kết quả ở các nước trong khu vực. Những năm  đầu thập kỷ 80 của thế kỷ trước, hàng năm ở đây có trên 13.000 trường hợp bạch hầu, đến năm 1990 giảm xuống 1.130 trường hợp và năm 1994 còn 614 trường hợp.
- Ở Việt Nam, thời kỳ chưa thực hiện tiêm vắc xin bạch hầu trong Chương trình tiêm chủng mở rộng (TCMR) thì bệnh bạch hầu thường xảy ra và gây dịch ở hầu hết các tỉnh, đặc biệt là ở các thành phố có mật độ dân cư cao. Bệnh xuất hiện nhiều vào các tháng 8, 9, 10 trong năm. Do thực hiện tốt việc tiêm vắc xin bạch hầu nên tỷ lệ mắc bạch hầu ở Việt Nam đã giảm dần từ 3,95/100.000 dân năm 1985 xuống 0,14/100.000 dân năm 2000.

4. Nguồn truyền nhiễm.

- Ổ chứa: ổ chứa vi khuẩn bạch hầu là ở người bệnh và người lành mang vi khuẩn. Đây vừa là ổ chứa, vừa là nguồn truyền bệnh.

- Thời gian ủ bệnh: Từ 2 đến 5 ngày, có thể lâu hơn. 

- Thời kỳ lây truyền:  Thường không cố định. Người bệnh đào thải vi khuẩn từ thời kỳ khởi phát, có thể ngay từ cuối thời kỳ ủ bệnh. Thời kỳ lây truyền kéo dài khoảng 2 tuần hoặc ngắn hơn, ít khi trên 4 tuần. Người lành mang vi khuẩn bạch hầu có thể từ vài ngày đến 3, 4 tuần, rất hiếm trường hợp kéo dài tới 6 tháng. Điều trị kháng sinh có hiệu quả nhanh chóng sẽ chấm dứt sự lây truyền. Hiếm có trường hợp mang vi khuẩn mãn tính kéo dài trên 6 tháng.

5. Phương thức lây truyền : Bệnh bạch hầu được lây truyền qua đường hô hấp do tiếp xúc với người bệnh hoặc người lành mang vi khuẩn bạch hầu. Bệnh còn có thể lây do tiếp xúc với những đồ vật có dính chất bài tiết của người bị nhiễm vi khuẩn bạch hầu. Sữa tươi cũng có thể là phương tiện lây truyền bệnh bạch hầu.

6. Tính cảm nhiễm và miễn dịch:

- Kháng thể miễn dịch của mẹ truyền sang con có tác dụng miễn dịch bảo vệ và thường sẽ hết tác dụng trước 6 tháng tuổi. Mọi lứa tuổi đều có thể bị mắc bệnh nếu chưa có miễn dịch đặc hiệu. Bệnh nhân mắc bạch hầu sau khi khỏi bệnh sẽ không bị mắc lại vì cơ thể được miễn dịch lâu dài.

- Đối với các thể nhiễm khuẩn ẩn tính cũng tạo được miễn dịch. Tính miễn dịch của kháng độc tố, kể cả miễn dịch được tạo thành sau khi tiêm vắc xin giải độc tố (toxoid) sẽ bảo vệ được cơ thể đối với bệnh bạch hầu, nhưng không ngăn ngừa được sự nhiễm khuẩn tại chỗ vùng mũi họng.

- Để đánh giá mức độ cảm thụ của bệnh, kể cả đánh giá hiệu quả tiêm vắc xin bạch hầu, người ta làm phản ứng Shick. Nếu phản ứng Shick (+), có nghĩa là cơ thể không có kháng thể bạch hầu và cần phải tiêm vắc xin. Trường hợp phản ứng Shick (-), có nghĩa là trong cơ thể đã có kháng thể trung hoà độc tố và không cần tiêm vắc xin.

7. Các biện pháp phòng chống dịch

7.1. Biện pháp dự phòng

- Tuyên truyền giáo dục sức khoẻ: Trong công tác tuyên truyền giáo dục sức khoẻ thường kỳ cần cung cấp những thông tin cần thiết về bệnh bạch hầu cho nhân dân, nhất là cho các bà mẹ, thầy cô giáo biết để họ phát hiện sớm bệnh, cách ly, phòng bệnh và cộng tác với cán bộ y tế cho con đi tiêm vắc-xin bạch hầu đầy đủ.

- Vệ sinh phòng bệnh:

+ Nhà ở, nhà trẻ, lớp học phải thông thoáng, sạch sẽ và có đủ ánh sáng.
+ Tại nơi có ổ dịch bạch hầu cũ cần tăng cường giám sát, phát hiện các trường hợp viêm họng giả mạc. Nếu có điều kiện thì ngoáy họng bệnh nhân cũ và những người lân cận để xét nghiệm tìm người lành mang vi khuẩn bạch hầu.

+ Tổ chức tiêm vắc xin bạch hầu đầy đủ theo Chương trình tiêm chủng mở rộng. Nếu có điều kiện thì khoảng 5 năm tiến hành đánh giá tiêm chủng một lần và/ hoặc thực hiện phản ứng Shick để đánh giá tình trạng miễn dịch bạch hầu trong quần thể trẻ em.

7.2. Biện pháp chống dịch

- Tổ chức:

+ Thành lập Ban chống dịch do lãnh đạo chính quyền làm trưởng ban, lãnh đạo y tế địa phương làm phó ban thường trực và các thành viên khác có liên quan như: Y tế, Giáo dục, Công an, Hội Phụ nữ, Hội Chữ thập đỏ v.v...

+ Các thành viên trong Ban chống dịch được phân công nhiệm vụ để chỉ đạo và huy động cộng đồng thực hiện tốt công tác chống dịch.

+ Đối với vụ dịch nhỏ cần giành một số giường bệnh trong một khu riêng ở khoa lây bệnh viện để cách ly và điều trị bệnh nhân. Nếu có dịch lớn thì có thể thành lập bệnh xá dã chiến trong cộng đồng.

- Chuyên môn:

+ Bạch hầu là một bệnh bắt buộc phải khai báo.

+ Tất cả bệnh nhân viêm họng giả mạc nghi bạch hầu phải được vào viện để cách ly đường hô hấp nghiêm ngặt cho đến khi có kết quả xét nghiệm vi khuẩn hai lần (-). Mỗi mẫu bệnh phẩm được lấy cách nhau 24 giờ và không quá 24 giờ sau khi điều trị kháng sinh. Nếu không có điều kiện làm xét nghiệm thì phải cách ly bệnh nhân sau 14 ngày điều trị kháng sinh.

+ Quản lý người lành mang vi khuẩn, người tiếp xúc: Những người tiếp xúc mật thiết với bệnh nhân phải được xét nghiệm vi khuẩn và theo dõi trong vòng 7 ngày. Tiêm 1 liều đơn Penicillin hoặc uống Erythromycin từ 7-10 ngày cho những người đã bị phơi nhiễm với bạch hầu, bất kể tình trạng miễn dịch của họ như thế nào. Nếu xét nghiệm vi khuẩn (+) thì họ phải được điều trị kháng sinh và tạm nghỉ việc tại các trường học hoặc cơ sở chế biến thực phẩm cho đến khi có kết quả xét nghiệm vi khuẩn (-).

+ Những người tiếp xúc đã được gây miễn dịch trước đây thì nên tiêm nhắc lại một liều giải độc tố bạch hầu.

+ Xử lý môi trường: Phải sát trùng tẩy uế đồng thời và sát trùng tẩy uế lần cuối tất cả các đồ vật có liên quan tới bệnh nhân. Tẩy uế và diệt khuẩn phòng bệnh nhân hàng ngày bằng cresyl, chloramin B; bát đĩa, đũa, chăn màn, quần áo… phải được luộc sôi; sách, vở, đồ chơi v.v… phải được phơi nắng.

7.3. Nguyên tắc điều trị

- Điều trị chống ngoại độc tố bạch hầu: Tuỳ theo tình trạng bệnh mà chỉ định tiêm huyết thanh kháng độc tố bạch hầu từ 20.000 đơn vị đến 100.000 đơn vị. Cần thử phản ứng huyết thanh kháng độc trước khi tiêm.

- Chống nhiễm khuẩn:  Tiêm penicillin G liều 25.000 - 50.000 đơn vị/kg/ngày cho trẻ em và 1,2 triệu đơn vị cho người lớn, chia làm 2 lần/ngày. Nếu bệnh nhân dị ứng với penicillin thì thay bằng erythromycin với liều 40-50 mg/kg/ngày, liều tối đa 2 gam/ngày trong 7 ngày liền.

- Điều trị dự phòng cho người lành mang vi khuẩn: Tiêm một liều đơn penicillin G benzathin 600.000 đơn vị cho trẻ dưới 6 tuổi và 1,2 triệu đơn vị cho trẻ từ 6 tuổi trở lên hoặc uống erythromycin với liều 40 mg/kg/ngày cho trẻ em và 1gam/ngày cho người lớn trong 7-10 ngày.

7.4. Kiểm dịch y tế biên giới: Không có quy định.

Cục Y tế dự phòng, Bộ Y tế

Chóng mặt - phải dùng thuốc theo căn nguyên gây bệnh

BS. Nguyễn Trâm Anh -

Suckhoedoisong.vn - Chóng mặt là hiện tượng xảy ra khá phổ biến. Khi có biểu hiện này, người bệnh cần được đi khám và tìm ra căn nguyên gây chóng mặt, không được chủ quan vì có thể dẫn đến những tai nạn nguy hiểm trong sinh hoạt hàng ngày.

Tuyệt đối không tự ý dùng thuốc vì bệnh không được chữa trị do chưa tìm đúng căn nguyên và có thể gặp phải nhiều tác dụng không mong muốn của thuốc.

Chóng mặt là khi người bệnh thấy mọi vật xung quanh quay cuồng, có cảm giác mất thăng bằng, đi đứng không vững, bồng bềnh, hụt bước đi, lâng lâng mất trọng lượng, nôn nao, khó chịu trong người...

Các thuốc điều trị chứng chóng mặt

Chóng mặt do nhiều nguyên nhân khác nhau với nguồn gốc từ ngoại biên hoặc trung ương. Chóng mặt do ngoại biên có thể xảy ra từ tư thế thay đổi đột ngột, từng bị chấn thương đầu, viêm và sưng tai trong, viêm dây thần kinh tiền đình, bệnh Ménière... Chóng mặt do trung ương có thể do bệnh đau đầu Migraine, đa xơ cứng hệ thần kinh trung ương não và tủy sống, u dây thần kinh thính giác, u não tấn công tiểu não, tắc nghẽn mạch máu não, dùng một số thuốc điều trị ảnh hưởng... Việc sử dụng thuốc điều trị chóng mặt phải theo căn nguyên mới có hiệu quả. Phần lớn các thuốc điều trị đều là thuốc bác sĩ kê đơn.

 

Chóng mặt là triệu chứng của nhiều bệnh lý gây nên.

Thuốc kháng sinh và kháng viêm: Nhóm thuốc này được sử dụng để điều trị chóng mặt do nhiễm vi khuẩn gây viêm mê đạo, viêm dây thần kinh tiền đình của tai... Kháng sinh thường dùng là cefuroxim, clarithromycin, amoxicillin... Kháng viêm thường dùng là loại corticosteroid như prednisolon, dexamethason, betamethason, clobetasol... Liều lượng sử dụng phải tuân theo chỉ định thuốc kê đơn của bác sĩ. Lưu ý, các thuốc kháng viêm corticosteroid khi sử dụng trong một thời gian dài có thể gây viêm loét dạ dày - tá tràng và có nguy cơ ảnh hưởng đến thận, tim mạch... Vì vậy, người bệnh tuyệt đối không lạm dụng để tránh các nguy cơ nói trên.

Thuốc chống dị ứng: Thuốc nhóm này là thuốc kháng histamin H1. Thực tế thuốc thường được sử dụng trong điều trị chóng mặt do có tác dụng điều chỉnh hoạt động của phần tai trong, giúp kiểm soát và duy trì trạng thái thăng bằng của cơ thể. Các loại thuốc thường dùng là diphenhydramin, betahistin, meclizin... Lưu ý, nhóm thuốc kháng histamin H1 có tác dụng phụ gây buồn ngủ, do đó không được sử dụng khi đang lái tàu xe, vận hành máy móc; thận trọng khi sử dụng cho phụ nữ có thai và đang cho con bú...

Thuốc kháng tiết cholin: Đây là nhóm thuốc thường được sử dụng trong điều trị các trường hợp chóng mặt và buồn nôn do bị say sóng, say tàu xe... Thuốc phổ biến được dùng là scopolamin. Không được dùng thuốc này cho những người bị bệnh tăng nhãn áp, phụ nữ có thai trong 3 tháng đầu, trẻ em dưới 8 tuổi...

Thuốc đối kháng calci có chọn lọc: Nhóm thuốc này có tác dụng giãn mạch ngoại biên, tăng cường tuần hoàn máu ở tai trong. Ngoài tác dụng đối kháng calci có chọn lọc, chúng còn có tác dụng giống nhóm thuốc kháng histamin nên thường được sử dụng để điều trị chóng mặt do say sóng, say tàu xe, bệnh đau nửa đầu... rất có hiệu quả. Thuốc thường sử dụng là cinnarizin, flunarizin... Nhóm thuốc này cũng có tác dụng phụ gây buồn ngủ, vì vậy, không được sử dụng khi đang lái tàu xe, vận hành máy móc.

Thuốc tăng cường tuần hoàn não: Sử dụng nhóm thuốc này có tác dụng giúp tăng cường khả năng vận chuyển máu lên não, kích hoạt não bộ thực hiện tốt chức năng dẫn truyền thần kinh; làm giảm chứng chóng mặt, ù tai... Các thuốc thường sử dụng là piracetam, vinpocetin... Khi dùng các thuốc này, người bệnh có thể thấy bứt rứt, lo âu, rối loạn giấc ngủ... Nếu có bất kỳ biểu hiện nào khác thường khi dùng thuốc tăng cường tuần hoàn não, người bệnh nên thông báo kịp thời cho bác sĩ để được điều chỉnh thuốc.

Thuốc chống lo âu, an thần kinh: Thuốc này thuộc nhóm benzodiazepin. Chúng cũng thường được sử dụng để điều trị chứng chóng mặt, ù tai, điều chỉnh và phục hồi các tổn thương ở tiền đình...; điều trị chứng chóng mặt do bệnh Menière, viêm dây thần kinh tiền đình hay do các nguyên nhân về tâm lý. Thuốc thường dùng là diazepam, clonazepam, lorazepam, alprazolam... Nhóm thuốc này có tính an thần nên không được sử dụng khi đang vận hành máy móc, lái xe; khi dùng liều cao trong thời gian dài sẽ gây ra tình trạng nghiện hay lệ thuộc thuốc.

Thuốc lợi tiểu: Được sử dụng để điều trị những trường hợp chóng mặt gây ra do bệnh Ménière. Chúng có tác dụng giúp thoát dịch bị phù ứ đọng ở phần tai trong nên có thể làm giảm triệu chứng. Các thuốc thường được sử dụng là furosemid, hydrochlorothiazid... Khi dùng nhóm thuốc này, người bệnh có thể gặp tác dụng phụ hạ huyết áp thế đứng, cần thông báo ngay cho bác sĩ để được xử trí thích hợp.

Lời khuyên của thầy thuốc

Do có nhiều nguyên nhân gây chóng mặt nên khi có triệu chứng này, người bệnh cần đi khám để xác định bệnh và có chỉ định điều trị phù hợp. Không được tự ý dùng thuốc hay dùng theo sự mách bảo của người khác. Ngoài việc điều trị bằng thuốc, cần có chế độ sinh hoạt nghỉ ngơi hợp lý; không nên sử dụng các chất kích thích như rượu bia, cà phê, thuốc lá...; thường xuyên tập thể dục để nâng cao thể trạng sức khỏe.

BS. Nguyễn Trâm Anh

Nguồn tin: Suckhoedoisong.vn

Thủ tướng chỉ đạo Bộ Y tế hướng dẫn các bệnh viện

thu phí không dùng tiền mặt

Suckhoedoisong.vn - Bộ Y tế hoàn thành việc chỉ đạo, hướng dẫn các bệnh viện phối hợp với các tổ chức tín dụng, tổ chức trung gian thanh toán để thu phí dịch vụ y tế bằng phương thức thanh toán không dùng tiền mặt.

Đây là một trong những nội dung của Chỉ thị số 22/CT-TTg do Thủ tướng Chính phủ ban hành về việc đẩy mạnh triển khai các giải pháp phát triển thanh toán không dùng tiền mặt tại Việt Nam.

Ngày 30/12/2016, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 2545/QĐ-TTg phê duyệt Đề án phát triển thanh toán không dùng tiền mặt tại Việt Nam giai đoạn 2016 - 2020 (Quyết định 2545/QĐ-TTg). Sau gần bốn năm triển khai Quyết định 2545/QĐ-TTg, hoạt động thanh toán không dùng tiền mặt tiếp tục phát triển tích cực.

Tuy nhiên, chỉ tiêu tỷ lệ tiền mặt trên tổng phương tiện thanh toán vẫn còn cao so với mục tiêu đã đề ra tại Quyết định 2545/QĐ-TTg (đến ngày 31/12/2019 là 11,33%); việc sử dụng tiền mặt vẫn còn khá phổ biến trong các giao dịch dân sự của người dân, nhất là ở địa bàn nông thôn, vùng sâu, vùng xa; thanh toán điện tử trong thương mại điện tử còn thấp; việc triển khai thanh toán không dùng tiền mặt trong lĩnh vực y tế, giáo dục còn khiêm tốn; tội phạm trong lĩnh vực công nghệ cao, thanh toán điện tử gần đây có những diễn biến phức tạp với những hành vi, thủ đoạn mới, tinh vi hơn...

Để tiếp tục thúc đẩy phát triển thanh toán không dùng tiền mặt, thanh toán điện tử đạt được các mục tiêu của Quyết định 2545/QĐ-TTg, đặc biệt trong bối cảnh diễn biến phức tạp của dịch bệnh COVID-19, Thủ tướng Chính phủ yêu cầu các bộ, ngành liên quan, các địa phương tích cực, khẩn trương thực hiện các nhiệm vụ chủ yếu đã được Thủ tướng Chính phủ giao tại Quyết định 2545/QĐ-TTg và các Nghị quyết của Chính phủ.

Trong đó, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) khẩn trương hoàn thành việc rà soát, sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện hành lang pháp lý cho hoạt động thanh toán không dùng tiền mặt, thanh toán điện tử, đáp ứng yêu cầu phát triển các mô hình, sản phẩm dịch vụ thanh toán mới; chủ trì, phối hợp với các bộ, cơ quan có liên quan trình Chính phủ xem xét ban hành Nghị định thay thế Nghị định về thanh toán không dùng tiền mặt trước ngày 1/7/2020; tiếp tục nghiên cứu ban hành theo thẩm quyền hoặc trình cấp thẩm quyền ban hành các cơ chế, chính sách thích hợp về phí dịch vụ thanh toán để khuyến khích tổ chức, cá nhân thực hiện thanh toán không dùng tiền mặt.

Đồng thời, NHNN chỉ đạo hoàn thành xây dựng, phát triển Hệ thống bù trừ điện tử tự động cho các giao dịch thanh toán bán lẻ (ACH), chính thức đưa vào vận hành, triển khai dịch vụ hoàn thành trước ngày 15/12/2020; chủ trì phối hợp với các cơ quan liên quan nghiên cứu, trình Thủ tướng Chính phủ việc triển khai các mô hình dịch vụ thanh toán mới để kịp thời đảm bảo công tác quản lý, đáp ứng yêu cầu thực tiễn.

 

 

Tiếp tục nghiên cứu, ứng dụng các giải pháp xác thực, nhận biết khách hàng (KYC) bằng phương thức điện tử để thúc đẩy tiếp cận và sử dụng các dịch vụ thanh toán; tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát, phòng, chống rửa tiền, tài trợ khủng bố trong hoạt động thanh toán không dùng tiền mặt, thanh toán điện tử, trung gian thanh toán, đảm bảo hoạt động an ninh, an toàn, hiệu quả.

Đẩy mạnh thanh toán điện tử trên mọi lĩnh vực

Thủ tướng Chính phủ yêu cầu trước ngày 1/7/2020, các Bộ liên quan phải hoàn thành một số nhiệm vụ. Cụ thể, Bộ Công Thương phải hoàn thành việc ban hành cơ chế, chính sách khuyến khích các cơ sở bán lẻ hàng hóa, dịch vụ chấp nhận và sử dụng các phương tiện thanh toán điện tử; khuyến khích thanh toán điện tử trong thương mại điện tử.

Bộ Tài chính có hướng dẫn cụ thể về cơ chế tài chính của các tổ chức hành chính, đơn vị sự nghiệp trong việc chi trả phí dịch vụ thanh toán không dùng tiền mặt cho tổ chức tín dụng, tổ chức trung gian thanh toán đảm bảo áp dụng khả thi, thực hiện thống nhất...

Bộ Y tế hoàn thành việc chỉ đạo, hướng dẫn các bệnh viện phối hợp với các tổ chức tín dụng, tổ chức trung gian thanh toán để thu phí dịch vụ y tế bằng phương thức thanh toán không dùng tiền mặt.

Bộ GDĐT hoàn thành việc chỉ đạo, hướng dẫn các trường học phối hợp với các tổ chức tín dụng, tổ chức trung gian thanh toán để thu phí dịch vụ giáo dục bằng phương thức thanh toán không dùng tiền mặt, xây dựng, chuẩn hóa cơ sở dữ liệu, nâng cấp hạ tầng kỹ thuật kết nối, chia sẻ thông tin với tổ chức tín dụng, tổ chức trung gian thanh toán để thực hiện thu phí dịch vụ giáo dục bằng phương tiện thanh toán điện tử.

 

Đẩy mạnh các giải pháp phát triển thanh toán không dùng tiền mặt. Ảnh minh họa.

Bộ LĐ-TBXH, Bảo hiểm Xã hội Việt Nam hoàn thành việc xây dựng và ban hành theo thẩm quyền các hướng dẫn, tiêu chuẩn, lộ trình chuẩn hóa thông tin dữ liệu về người nhận lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội, các chế độ an sinh xã hội để có thể kết nối chia sẻ thông tin với tổ chức tín dụng, tổ chức trung gian thanh toán thực hiện chi trả các chế độ an sinh xã hội, lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội qua ngân hàng.

Bộ Công an khẩn trương hoàn thành việc rà soát, sửa đổi, bổ sung các quy định về đảm bảo an ninh, an toàn, phát hiện, phòng ngừa, ngăn chặn và xử lý vi phạm pháp luật trong lĩnh vực thanh toán điện tử, trung gian thanh toán; hoàn thiện việc chủ trì xây dựng cơ sở dữ liệu về xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông; áp dụng thống nhất việc định danh các khoản thu phạt vi phạm hành chính; kết nối chia sẻ thông tin thu phạt với Kho bạc Nhà nước, các tổ chức tín dụng và các đơn vị có liên quan; ứng dụng các phương thức thanh toán không dùng tiền mặt trong thu phạt vi phạm hành chính.

Bộ GTVT khẩn trương hoàn thành việc nghiên cứu, ban hành chính sách khuyến khích phát triển các loại thẻ đa dụng, đa năng, thẻ không tiếp xúc, thẻ phi vật lý để thu phí cầu đường, mua vé tàu, xe...

D.Hải

Nguồn tin : Báo SỨC KHỎE & ĐỜI SỐNG Online

Thứ hai, 25 Tháng 5 2020 02:31

Nền y tế từ xa

Written by

Hoàng Nhung Nhà báo

Nền y tế từ xa

 

Mẹ già 75 tuổi than đau lưng, tê chân, khó đi lại. Chị tôi rối rít khăn gói để chở mẹ bằng xe máy từ Bình Dương lên Sài Gòn khám trong mùa Covid.

Tôi can ngay, "tránh đến bệnh viện lúc này". Chúng tôi suy nghĩ, làm sao để khám cho bà nhanh nhất mà đỡ sức đi lại, tránh rủi ro lây nhiễm bệnh dịch. Tất cả các phòng khám chuyên khoa xương khớp, theo chỉ đạo, đều phải đóng cửa tạm thời trong tháng Tư. Nhiều phòng khám đa khoa ế bệnh nhân quá cũng tự xin phép đóng luôn. Tại bệnh viện, một số khoa phòng như vật lý trị liệu cũng tạm nghỉ.

Lục lại trí nhớ, tôi tìm ra một bác sĩ chuyên về xương khớp - chấn thương chỉnh hình đang ở Canada nhưng khám bệnh trực tuyến. Từ Bình Dương, chị tôi kết nối với bác sĩ qua mạng. Thư ký robot tự động túc trực 24 giờ từng bước hướng dẫn chị cách tạo sổ khám online để lưu trữ bệnh án, cách đóng tiền khám bệnh qua thẻ tín dụng, thẻ ATM hoặc thẻ cào điện thoại, hẹn giờ khám. Phí khám bệnh là 150.000 đồng mỗi lần.

Đúng giờ hẹn, chị và mẹ online. Bà kể về bệnh đau lưng mấy tháng nay và lo lắng của mình, bác sĩ đã ân cần hỏi bệnh, giải thích những vướng mắc của bà và người thân, tư vấn cách khắc phục. Ngoài 15 phút khám trực tuyến, bác sĩ còn nghiên cứu hồ sơ bệnh án gửi trước và "khám lâm sàng online". Ông kê toa cho bệnh nhân, đề nghị người nhà theo dõi và báo cáo hàng ngày qua mạng.

Mặc dù đang sống tại Canada, nhưng vị bác sĩ là một trong những người đi đầu trong việc mở "phòng khám trực tuyến" để phục vụ bệnh nhân từ Việt Nam hay bất cứ đâu. Người dân, khi thiếu thời gian, không tiện đi lại vẫn khám bệnh được ngay tại nhà hoặc tại nơi làm việc.

Nhiều người Việt Nam vốn coi bệnh viện là trung tâm trong khi xu thế mới là "lấy bệnh nhân làm trung tâm". Các trung tâm xuất sắc về telemedicine, telehealth, mhealth - gọi chung là dịch vụ chăm sóc sức khỏe cho bệnh nhân từ xa thông qua hệ thống viễn thông và công nghệ thông tin bao gồm cả chẩn đoán và điều trị, cung cấp thuốc men, tư vấn, dự phòng và phục hồi - sẽ là đối thủ cạnh tranh mới của các bệnh viện, phòng khám sắp tới. Ở những quốc gia tiên tiến, mô hình này đã ra đời gần 40 năm nhằm giảm quá tải cho bệnh viện, tránh lây lan dịch bệnh, tiết kiệm chi phí đi lại cho người dân và góp phần kiểm soát bệnh tật xã hội.

Trong những ngày giãn cách xã hội, hàng triệu nhiều bệnh nhân có bệnh mãn tính về tim mạch, đái tháo đường, tiêu hóa, cơ xương khớp, da liễu, ung thư... vẫn cần thăm khám thường xuyên. Nhưng họ đang phải hạn chế tới các trung tâm y tế, gặp bác sĩ trực tiếp, hạn chế di chuyển. Ở các quốc gia nơi mô hình khám bệnh telemedicine phát triển, bệnh nhân chỉ cần gọi điện cho bác sĩ, đặt lịch hẹn khám từ xa, xử trí bệnh ngay lập tức và toa thuốc sẽ được gửi tới tận nhà. Với những người nghi ngờ có thể bị nhiễm nCoV những ngày này, họ chỉ cần gọi điện cho bác sĩ, điền đầy đủ triệu chứng vào tờ khai sẽ được khám online, được chỉ định dùng thuốc và cách ly tại nhà. Họ chỉ nhập viện khi suy hô hấp.

Khi y học từ xa phát triển, các phương tiện chẩn đoán bệnh từ xa cũng phát huy theo. Ngoài bệnh án điện tử và có nhân viên y tế hỗ trợ online, bác sĩ có thể nghe nhịp tim của bệnh nhân từ xa, siêu âm từ xa, soi tai mũi họng từ xa, theo dõi tim thai từ xa. Bác sĩ cũng có thể giải phẫu bệnh, cắt mẫu mô soi kính hiển vi để theo dõi tế bào... Hiện nay, với việc ứng dụng trí tuệ nhân tạo, chỉ cần đủ hình ảnh và thông tin, bác sĩ hoàn toàn có thể đưa ra kết luận nhanh và chính xác. Như vậy, dù trong cấp cứu thảm họa hay dịch bệnh, không thể hay không có điều kiện đến gặp bác sĩ, bệnh nhân không hề đơn độc.

Tại Việt Nam, mặc dù đã được nhiều tổ chức, cá nhân xây dựng và phát triển, mô hình khám bệnh từ xa chưa thành công vì nhiều lý do. Một lý do chính là nhiều người vẫn quan niệm rằng khám bệnh phải có bác sĩ nhìn, sờ, gõ, nghe; bác sĩ cũng phải trực tiếp gặp bệnh nhân mới có nguồn thu, phải làm thêm một vài xét nghiệm, chụp chiếu mới đủ bù đắp cho đầu tư. Bên cạnh đó, hạ tầng công nghệ thông tin chưa đủ mạnh nên một số người mới chỉ tư vấn bệnh qua điện thoại, cửa sổ chat, camera. Hành lang pháp lý chưa rõ ràng. Các quy định pháp luật về khám bệnh từ xa chưa có nên chưa khuyến khích hình thức này phát triển.

Tại Mỹ, Pháp, Canada, Singapore hay Ấn Độ, mô hình khám chữa bệnh telemedicine đã phổ biến nhờ hạ tầng công nghệ thông tin phát triển, nơi chính phủ đã tập trung thúc đẩy công nghệ kinh tế y tế, tạo thế mạnh cạnh tranh lấy y tế làm dịch vụ trong khu vực. Các chính phủ cũng khuyến khích nhà đầu tư tập trung vào lĩnh vực này, vừa giải quyết bài toán an sinh xã hội và cải thiện nguồn lực y tế cộng đồng, vừa xuất khẩu y tế tại chỗ. Những bác sĩ từ Singapore gần đây đã vươn tay khám chữa cho nhiều bệnh nhân tại Việt Nam và trong khu vực, thu ngoại tệ tại chỗ.

Một trong những giải pháp mở đường cho thị trường y tế online, theo các chuyên gia, Bộ Y tế trước tiên thúc đẩy mô hình khám bệnh từ xa bằng cách ban hành các thông tư, quy định rõ ràng về phòng khám trực tuyến. Điều kiện nào, ai được phép thành lập phòng khám online; cách kết nối với bệnh nhân, bệnh viện, trung tâm xét nghiệm, nhà thuốc; hành lang pháp lý công nhận toa thuốc, định giá khám chữa bệnh trực tuyến, toa thuốc và chữ ký điện tử để nhà thuốc in ra và giao thuốc tận nhà cho bệnh nhân.

Nền Y tế của chúng ta, dù muốn hay không, đã phải chuyển sang trạng thái mới sau sự xuất hiện của dịch Covid-19. Thúc đẩy y tế từ xa là một cách để thay đổi phương thức quản lý và vận hành thị trường, bảo toàn mối quan hệ giữa bác sĩ và bệnh nhân.

Hoàng Nhung

Nguồn tin: https://vnexpress.net

Thứ sáu, 08 Tháng 5 2020 03:19

Cảnh báo 6 thực phẩm bảo vệ sức khỏe

Written by

Cnh báo 6 thc phm bo v sc khe qung cáo la đo như thuc cha bnh

 

TPO - 6 sản phẩm thực phẩm bảo vệ sức khỏe quảng cáo không đúng bản chất, lừa dối người tiêu dùng là: Hapanix, Hạ Đường Tâm An, Ích Tâm Đường, Diagood, Nano Fast và Hạ đường Tâm an

 

Ảnh minh họa: Internet

Thông tin từ Cục An toàn thực phẩm, Bộ Y tế cho biết, trong thời gian qua, Cục đã phát hiện 6 sản phẩm thực phẩm bảo vệ sức khỏe quảng cáo không đúng bản chất, lừa dối người tiêu dùng, vi phạm quy định pháp luật về quảng cáo.

Thực phẩm bảo vệ sức khỏe Hapanix có nội dung quảng cáo sản phẩm, không đúng bản chất, lừa dối người tiêu dùng, vi phạm quy định pháp luật về quảng cáo.

Sản phẩm này do Công ty TNHH Nature Origin (Địa chỉ: Tầng 2, tòa nhà HKL Building, số 154-156 Nguyễn Hữu Thọ, xã Phước Kiển, huyện Nhà Bè, thành phố Hồ Chí Minh) công bố và chịu trách nhiệm sản phẩm.

Sản phẩm Hạ Đường Tâm An, Ích Tâm Đường, Diagood không đúng bản chất, lừa dối người tiêu dùng, vi phạm quy định pháp luật về quảng cáo.

Sản phẩm thực phẩm bảo vệ sức khỏe Hạ Đường Tâm An đã được Cục ATTP cấp Giấy tiếp nhận đăng ký bản công bố sản phẩm cho Công ty TNHH Dutuno & Ha Va (Địa chỉ: Số 34 Lương Ngọc Quyến, phường Văn Quán, Quận Hà Đông, Thành phố Hà Nội).

Sản phẩm thực phẩm bảo vệ sức khỏe Ích Tâm Đường đã được Cục ATTP cấp Giấy tiếp nhận đăng ký bản công bố sản phẩm cho CÔNG TY TNHH TM FFG (Địa chỉ: Số nhà N3/28, ngõ 3, phố Hạ Đình, Phường Thanh Xuân Trung, Quận Thanh Xuân, Thành phố Hà Nội).

Sản phẩm thực phẩm bảo vệ sức khỏe Diagood đã được Cục ATTP cấp Giấy tiếp nhận đăng ký bản công bố sản phẩm cho Công ty cổ phần Thảo Mộc Đường (Địa chỉ: Số 12B, Ngõ 741, Đường Giải Phóng, Phường Giáp Bát, Quận Hoàng Mai, Thành phố Hà Nội, Việt Nam).

Hai sản phẩm tiếp theo được 'bêu tên' là thực phẩm bảo vệ sức khỏe Nano Fast và thực phẩm bảo vệ sức khỏe Hạ đường Tâm an không đúng bản chất, lừa dối người tiêu dùng, vi phạm quy định pháp luật về quảng cáo.

Sản phẩm thực phẩm bảo vệ sức khỏe Nano Fast do Công ty TNHH MTV Nano Việt Nam (Địa chỉ: Tầng 1, Số 170 Đê La Thành, Phường Ô Chợ Dừa, Quận Đống Đa, Thành Phố Hà Nội) công bố và chịu trách nhiệm sản phẩm.

Sản phẩm thực phẩm bảo vệ sức khỏe Hạ đường Tâm An do Công ty TNHH Dutuno & Ha Va (Địa chỉ: Số 34 Lương Ngọc Quyến, phường Văn Quán, Quận Hà Đông, Thành phố Hà Nội) công bố và chịu trách nhiệm sản phẩm.

Cục An toàn thực phẩm đang phối hợp với các cơ quan chức năng để xử lý vi phạm nêu trên.  Trong quá trình các cơ quan chức năng xử lý, Cục An toàn thực phẩm đề nghị người tiêu dùng không căn cứ vào các nội dung quảng cáo sai sự thật trên các website nêu trên để quyết định mua, sử dụng sản phẩm gây ảnh hưởng đến sức khỏe và kinh tế.

Nguồn tin: https://www.tienphong.vn

Thứ hai, 27 Tháng 4 2020 02:13

Nhiễm COVID-19 không triệu chứng

Written by

Cảnh giác với nhiễm COVID-19 không triệu chứng

(Thứ tư, 22/04/2020 19:58)

Biểu hiện các triệu chứng lâm sàng chính của COVID-19 ngay từ đầu đã được xác định như sốt, ho, tức ngực, khó thở... nhưng đến nay Trung Quốc, nơi khởi nguồn của đại dịch đã có công bố về người nhiễm virus SARS-CoV-2 nhưng không có triệu chứng.

Người mang mầm bệnh không triệu chứng là gì?

Nói đến mang mầm bệnh không triệu chứng, người ta muốn ám chỉ mầm bệnh ở đây là vi sinh vật (virrus, vi khuẩn) gây bệnh. Người mang mầm bệnh không có triệu chứng, có nghĩa là người đang mang mầm bệnh trong cơ thể nhưng vẫn khỏe mạnh hoặc đã bị nhiễm mầm bệnh, nhưng không có dấu hiệu cũng như triệu chứng nào. Mặc dù không bị ảnh hưởng bởi chính mầm bệnh nhưng người mang mầm bệnh vẫn có thể truyền bệnh cho người khác hoặc phát triển các triệu chứng ở giai đoạn sau của bệnh. Vì vậy, đã từ lâu “người mang mầm bệnh không triệu chứng” đã được các nhà dịch tễ học bệnh truyền nhiễm rất quan tâm, bởi vì, trong cộng đồng dân cư hay gặp nhất người lành mang mầm bệnh không triệu chứng như vi khuẩn (thương hàn, tả, lỵ, bạch hầu...), virus (cúm, HIV, SARS...). Những người mang mầm bệnh không triệu chứng này sẽ gieo rắc mầm bệnh ra môi trường, làm cho nhiều người bị lây nhiễm và lâm bệnh, thậm chí bùng phát thành dịch, thậm chí đại dịch (dịch tả, dịch lỵ, dịch bạch hầu, dịch cúm...). Đây là những người mang mầm bệnh không có triệu chứng lâm sàng, nên bản thân người mang mầm bệnh cũng như những người xung quanh (gia đình, bạn bè, hàng xóm, trường học, công sở...) không thể biết được và cán bộ y tế cũng không thể nào nắm bắt được, chỉ trong trường hợp nghi ngờ mới tiến hành làm các xét nghiệm cần thiết mới hy vọng phát hiện được.

 

 

Cảnh giác với nhiễm COVID-19 không triệu chứng

Một số loại người mang mầm bệnh không triệu chứng

Người mang mầm bệnh không triệu chứng là người đã bị vi sinh vật gây bệnh xâm nhập vào cơ thể nhưng do cơ thể có sức đề kháng mạnh sẽ ức chế được sự phát triển của vi sinh vật (không cho chúng nhân lên) cho nên không thể gây bệnh nên không có triệu chứng lâm sàng hoặc do số lượng vi sinh vật xâm nhập cơ thể với số lượng ít chưa thể gây bệnh được cho nên không có triệu chứng nào xuất hiện. Với dạng này, mầm bệnh vẫn tồn tại trong cơ thể chưa thể gây bệnh nhưng khi sức đề kháng của thể vì một lý do nào đó suy giảm, chúng sẽ phát triển nhanh chóng và gây bệnh. Dạng người lành mang mầm bệnh không triệu chứng này hết sức nguy hiểm mặc dù chúng chưa gây bệnh cho người đó nhưng chúng luôn đào thải ra môi trường bên ngoài làm cho nhiều người có thể gặp phải, mắc bệnh và nguy cơ thành dịch, thậm chí đại dịch.

Đồng thời có một loại khác người mang mầm bệnh không triệu chứng, đó là loại bệnh nhân mầm bệnh đã xâm nhập cơ thể, chúng đang ở giai đoạn thích nghi với điều kiện mới để nhân lên và gây bệnh, gọi là thời kỳ ủ bệnh (nung bệnh). Ở giai đoạn này hầu hết các bệnh nhiễm trùng đều chưa có triệu chứng lâm sàng nào. Giai đoạn này phụ thuộc vào nhiều yếu tố như độc lực của vi sinh vật gây bệnh, số lượng vi sinh vật xâm nhập, sức đề kháng của cơ thể... Ở giai đoạn này người bệnh cũng không thể biết, những người xung quanh, người tiếp xúc trực tiếp cũng không thể biết và ngay cả cán bộ y tế cũng không thể biết được người này có mang mầm bệnh. Và điều nguy hiểm nhất là mầm bệnh rất dễ lây lan ra xung quanh, lây cho những người giao tiếp, đặc biệt là những người tiếp xúc gần.

Bên cạnh đó còn có một loại người mang mầm bệnh không triệu chứng là vi sinh vật chưa xâm nhập vào trong cơ thể cho nên không làm tổn thương cơ thể, vì vậy, không có triệu chứng là điều tất nhiên. Bởi vì, chúng đang ở ngoài cơ thể (da, niêm mạc lòng bàn tay, bàn chân...), lông, tóc, quần áo... Tuy vậy, loai này, vi sinh vật gây bệnh có thể xâm nhập cơ thể bất cứ lúc nào và có khả năng làm lây lan ra môi trường xung quanh rất lớn.

Ðối với COVID-19 cũng không nằm ngoài quy luật “người mang mầm bệnh không triệu chứng”. Nhưng mức độ của người mang SARS-CoV-2 không triệu chứng này nguy hiểm hơn rất nhiều, bởi vì, dịch bệnh đã diễn ra khắp toàn cầu, đã có hàng chục ngàn người tử vong và nguy cơ hàng triệu người nhiễm SARS-CoV-2 là rất lớn, trong khi đó sự giao lưu, đi lại giữa các châu lục bằng nhiều phương tiện khác nhau lại rất dễ dàng, thuận tiện, vì vậy, mức độ tiếp xúc là cực kỳ lớn và mức độ lây lan mầm bệnh là khó tiên đoán cụ thể được. Thêm vào đó phương pháp phòng bệnh hữu hiệu nhất là dùng vắc-xin để phòng SARS-CoV-2 chưa có và thuốc điều trị hữu hiệu cũng đang trong giai đoạn nghiên cứu.

 

PGS.TS. Bùi Khắc Hậu

Nguồn: Báo Sức khỏe&Đời sống

5 viec lam

 

7 thoi quen

Nguồn: Báo Sức khỏe&Đời sống

Bác sĩ Nguyễn Lân Hiếu, Giám đốc Bệnh viện Đại học Y Hà Nội cho biết, Telemedecine sẽ xóa nhòa ranh giới trình độ của các đơn vị còn chưa được nâng cao về chuyên môn.

Trong 3 năm đầu tư triển khai hoạt động khám chữa bệnh từ xa cho vùng sâu vùng xa, khó khăn lớn nhất mà Bệnh viện Đại học Y Hà Nội gặp phải là gì thưa ông?

Có hai khó khăn lớn nhất. Thứ nhất là hạ tầng cơ sở. Các bệnh viện hiện nay khả năng đầu tư về công nghệ thông tin còn hạn chế, vì nguồn lực không có nhiều. Nguồn thu chỉ đến từ việc khám chữa cho bệnh nhân.

Khó khăn thứ hai là chưa có một thông tư rõ ràng nào để có thể triển khai rộng rãi được.

Mới đây, Bệnh viện Đại học Y đã triển khai nền tảng Telehealth, việc khám chữa bệnh từ xa của Bệnh viện Đại học Y Hà Nội sẽ thay đổi ra sao?

Thay đổi tốt nhất sẽ được thể hiện ở các bệnh viện vệ tinh. Với sự hỗ trợ của Viettel về phần cứng, các công nghệ nâng cấp cho bệnh viện vệ tinh và đặc biệt là chính ở bệnh viện chúng tôi thì việc hội chẩn trực tuyến sẽ dễ dàng hơn rất nhiều. Các hình ảnh, các buổi truyền hình và các phương tiện phân tích hình ảnh trong chẩn đoán hình ảnh: CT, MRI và siêu âm sẽ rõ ràng và có chất lượng tốt hơn.

Nếu phần mềm của Viettel thực sự tốt – chúng tôi cũng chưa thể khẳng định có tốt hay không vì mới ở giai đoạn đầu – thì chúng tôi có thể triển khai trên diện rộng tất cả các bệnh nhân tái khám ở bệnh viện. Họ có thể cài đặt ứng dụng này trong điện thoại thông minh để sử dụng trong việc hẹn tái khám, theo dõi trong quá trình điều trị và đặc biệt sẽ có một hồ sơ bệnh án riêng cho mỗi bệnh nhân. Như vậy khi tái khám sẽ rất thuận lợi cho việc khám chữa bệnh của bác sĩ.

Trong tương lai gần, những thay đổi tiếp theo mà hệ thống khám chữa bệnh từ xa của Bệnh viện Đại học Y Hà Nội có thể làm được với nền tảng Telehealth dự kiến là những gì?

Trong tương lai, việc thiết thực nhất là chúng tôi sẽ nâng cấp hệ thống bệnh viện vệ tinh đến tận xã. Các bác sĩ ở bệnh viện huyện sẽ quản lý các trạm y tế xã, với các kết nối thông minh, đặc biệt là các thiết bị. Nếu phía Viettel có thể đưa ra chính sách giá hợp lý cho các bộ dụng cụ thăm khám, theo dõi từ xa cho người dân, tôi hi vọng gần 700 xã nằm trong hệ thống bệnh viện vệ tinh của Bệnh viện Đại học Y Hà Nội sẽ được trang bị hệ thống theo dõi khám sức khỏe từ xa như vậy.

Nhân rộng hơn nữa, nếu mô hình này thành công thì sẽ có nhiều bệnh viện tuyến trung ương có thể triển khai mạng lưới giống như Bệnh viện Đại học Y Hà Nội. 

Đội ngũ y bác sĩ của Bệnh viện Đại học Y Hà Nội đã sẵn sàng với hệ thống khám chữa bệnh từ xa có nền tảng mới hay chưa?

Tôi nghĩ là chưa sẵn sàng 100%, vì chúng tôi cũng mới bắt đầu triển khai, bắt đầu học hỏi. Chính vì thế giai đoạn đầu tiên sẽ là giai đoạn khó khăn nhất. Đội ngũ y bác sĩ chúng tôi sẽ cập nhật thông tin qua các buổi huấn luyện, học tập cách sử dụng cũng như làm quen với việc không khám trực tiếp cho người bệnh mà phải sử dụng các công cụ hỗ trợ.

Chúng tôi sẽ xây dựng những quy trình chặt chẽ về chuyên môn, tránh trường hợp bỏ sót chẩn đoán khi chúng ta không trực tiếp thăm khám được. Chúng ta sẽ có những giới hạn nhất định của Telehealth và lường trước các sự cố có thể xảy ra khi người dân không thăm khám trực tiếp. Đây là quá trình cần đầu tư rất nhiều thời gian và công sức.

Người bệnh đã sẵn sàng với hệ thống này chưa?

Theo tôi là chưa. Đây là một việc rất mới. Người bệnh đã quen với việc phải đến tận nơi gặp bác sĩ. Giờ họ cần làm quen với việc sử dụng công nghệ để có thể theo dõi sức khỏe của mình. Nên tôi nghĩ rất cần có sự tham gia của truyền thông, cùng với hệ thống y tế, các bác sĩ và bệnh viện phải vào cuộc để thúc đẩy người dân sử dụng công cụ này.

Và một việc đặc biệt quan trọng chính là hành lang pháp lý. Bệnh nhân, các cơ quan quản lý nhà nước phải ra những thông tư, chỉ định, chỉ đạo hướng dẫn rõ ràng hệ thống khám chữa bệnh từ xa. Đặc biệt là bên Bảo hiểm Y tế, tìm ra phương hướng để chi trả cho việc khám chữa bệnh từ xa bằng Quỹ Bảo hiểm Y tế. Vì sử dụng hệ thống này sẽ làm giảm tốn kém cho cả người dân đến bệnh viện và chính Quỹ Bảo hiểm Y tế. Vì mỗi lần người bệnh đến khám không cần thiết là một lần Quỹ bị tiêu tốn nguồn lực.

Theo tôi, trong thời gian ngắn, Bộ Y tế sẽ phải tiên phong đưa ra thông tư, quy định hướng dẫn cho việc khám chữa bệnh từ xa và Bảo hiểm Y tế cần vào cuộc càng sớm càng tốt.

Với những người bệnh, họ sẽ có được điều gì với hệ thống khám chữa bệnh mới?

Với Telehealth, chúng ta có thể đặt lịch khám, tổ chức khám bệnh hết sức khoa học. Bác sĩ có thể theo dõi bệnh nhân sau khi khám bệnh xong, đánh giá tiến triển người bệnh.

“Những gì mà chúng ta chứng kiến từ Bệnh viện Đại học Y Hà Nội cho thấy lợi ích rõ ràng của hoạt động khám chữa bệnh từ xa. Người bệnh vẫn được khám bệnh nhưng không phải tới bệnh viện; bệnh viện tuyến trên có thể hỗ trợ bệnh viện tuyến dưới hết sức nhanh chóng và thuận lợi” Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc nói.

Hơn hết, chúng ta có thể gắn kết hệ thống y tế thành một khối, xóa nhòa ranh giới trình độ của các đơn vị còn chưa được nâng cao về chuyên môn. Như tuyến huyện, tuyến xã sẽ được nâng lên tương đương với tuyến tỉnh, tuyến trung ương. Lúc đó, người hưởng lợi không còn chỉ là bệnh nhân mà chính là nhân viên y tế, bác sĩ, điều dưỡng cũng dễ dàng hoạt động y nghiệp hơn.

Khả năng khám chữa bệnh của Bệnh viện Đại học Y Hà Nội sẽ được hỗ trợ ra sao trong thời gian ngắn và trong tương lai với hệ thống Telehealth này?

Hiện chúng ta đang khám chữa bệnh theo phương pháp truyền thống và vẫn cần tiếp tục duy trì phát huy. Telehealth sẽ là một công cụ hỗ trợ. Một bác sĩ đang có hai tay, sẽ có thêm cánh tay thứ ba là Telehealth. Nó không thể thay thế tuyệt đối, nhưng sẽ hỗ trợ cho hệ thống y tế.

 

Trong dịch Covid-19, hệ thống Telehealth này đem lại hiệu quả gì?

Hiệu quả rõ nhất là giảm tỷ lệ bệnh nhân đi từ nhà đến bệnh viện cơ sở. Giảm tỷ lệ chuyển tuyến từ bệnh viện cơ sở đến bệnh viện trung ương. Đặc biệt là giảm tỷ lệ tái khám của người bệnh.

Hiện tại, nhóm bệnh cụ thể nào có thể khám chữa bệnh qua Telehealth?

Tất cả các bệnh lý không lây nhiễm chúng ta đều có thể khám được. Nhưng để bệnh nhân có thể không cần đến gặp bác sĩ thì cần có những trường hợp cụ thể. Nếu như bệnh nhân đang điều trị ổn định, chẩn đoán rõ ràng và có những thông số theo dõi bằng Telehealth ổn định thì có thể được nghe tư vấn và tiếp tục điều trị từ xa. Còn những trường hợp chẩn đoán khó, thì hiện nay bệnh nhân vẫn cần phải đến bệnh viện để được chẩn đoán chính xác.

Nguồn: ictnews.vietnamnet.vn

     Mới đây, Bệnh viện Đại học Y đã triển khai nền tảng Telehealth - khám chữa bệnh từ xa do Viettel cung cấp. Phát biểu tại sự kiện này, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc cho rằng, khám chữa bệnh trực tuyến, khám bệnh từ xa thì hiệu quả nhân đôi, nhân ba, vừa giúp giãn cách xã hội, vừa minh bạch thủ tục hành chính, giảm giấy tờ, giảm tiền mặt, giảm chi phí cho người dân. Từ mô hình thí điểm khám bệnh từ xa tại BV Đại học Y, Thủ tướng đề nghị Bộ Y tế có đánh giá để rút kinh nghiệm, từ đó triển khai hoạt động này trên toàn quốc, huy động nhiều bác sĩ chuyên môn cao. 

Bệnh viện Đại học Y khám trực tuyến cho bệnh nhân tại Lễ Khai trương Nền tảng hỗ trợ tư vấn khám, chữa bệnh từ xa sáng 18/4. 

     Thứ trưởng thường trực Bộ Y tế Nguyễn Thanh Long cho biết, chính nhờ hỗ trợ của công nghệ, nhờ hỗ trợ chuyên môn trực tuyến nên không còn khoảng cách trong Nam, ngoài Bắc, không phân biệt tuyến trên, tuyến dưới, ngay tuyến huyện cũng có thể được hội chẩn với các chuyên gia.

     Chia sẻ về việc triển khai giải pháp này tới các bệnh viện, ông Nguyễn Mạnh Hổ, Tổng giám đốc Tổng Công ty Giải pháp Doanh nghiệp Viettel (Viettel Solutions) cho rằng, Khi dự khai trương nền tảng khám chữa bệnh từ xa, Thủ tướng kỳ vọng nền tảng này có thể được triển khai khắp 14.000 cơ sở y tế trên cả nước.

     Về mặt kỹ thuật, sau lễ khai trương, Viettel vẫn tiếp tục hoàn chỉnh, hoàn thiện các giải pháp để đảm bảo đáp ứng các yêu cầu của ngành y tế. Việc cải tiến và hoàn thiện là không ngừng. Nền tảng của Viettel có thể dễ dàng triển khai nhanh đến toàn bộ 14.000 cơ sở y tế trên cả nước là vì chạy trên môi trường cloud.

     Thế nhưng, ông Nguyễn Mạnh Hổ cho rằng, thách thức lớn nhất cho việc triển khai này là phải thay đổi thói quen của người dân, các y bác sĩ từ cách thức khám chữa bệnh cũ sang phương pháp khám chữa bệnh mới.

     "Để giải quyết bài toán này, Viettel sẽ phối hợp với các bệnh viện, cơ quan quản lý của Bộ Y tế để chuẩn hóa quy trình khám chữa bệnh từ xa. Trước mắt, Viettel sẽ mời cơ quan quản lý y tế tham gia đào tạo, tập huấn các cơ sở khám chữa bệnh với quy mô khác nhau để làm mẫu, từ đó xây dựng quy trình khám chữa bệnh, chuẩn hóa và đào tạo với quy mô lớn hơn" ông Nguyễn Mạnh Hổ nói.

     CEO Viettel Solutions cho rằng, để việc nhân rộng đạt hiệu quả thực sự, cần phải đảm bảo 3 yếu tố. Thứ nhất, chúng ta phải có cơ sở pháp lý cho khám chữa bệnh từ xa. Trước đây, các ý kiến chuyên gia thăm khám bệnh kiểu này chỉ đóng vai trò tư vấn. Do vậy, trong tương lai, Việt Nam sẽ cần chính thức hoá các ý kiến này giống như khám chữa bệnh trực tiếp. Thứ hai, khám chữa bệnh từ xa cũng phải có chính sách chi trả từ Bảo hiểm Xã hội, Bảo hiểm Y tế tương tự như khám trực tiếp. Thứ ba, các phần mềm, ứng dụng chỉ là một phần, chúng ta vẫn cần những thiết bị IoT, thiết bị y tế phục vụ thăm khám, đo chỉ số cá nhân tại gia đình với chất liệu và giá thành rẻ có thể chấp nhận được. Khi giải quyết được 3 vấn đề này thì người dân có thể ngồi tại nhà, thông qua các thiết bị trong khả năng chi trả để tương tác, chuyển thông tin sức khoẻ đến bệnh viện.

     Chia sẻ thêm về vấn đề này, Bác sĩ Nguyễn Lân Hiếu, Giám đốc Bệnh viện Đại học Y Hà Nội cho biết, Bệnh viện Đại học Y Hà Nội đã triển khai hoạt động khám chữa bệnh từ xa cho vùng sâu vùng xa từ 3 năm nay. Tuy nhiên, thách thức của các bệnh viện là hạ tầng cơ sở. Các bệnh viện hiện nay khả năng đầu tư về công nghệ thông tin còn hạn chế, vì nguồn lực không có nhiều. Khó khăn thứ hai là chưa có một thông tư rõ ràng nào để có thể triển khai rộng rãi được.

Bác sĩ Nguyễn Lân Hiếu, Giám đốc Bệnh viện Đại học Y Hà Nội cho biết, Telehealth sẽ xóa nhòa ranh giới trình độ của các đơn vị còn chưa được nâng cao về chuyên môn.

     "Với sự hỗ trợ của Viettel về phần cứng, các công nghệ nâng cấp cho bệnh viện vệ tinh và đặc biệt là chính ở bệnh viện chúng tôi thì việc hội chẩn trực tuyến sẽ dễ dàng hơn rất nhiều. Nếu phần mềm của Viettel thực sự tốt – chúng tôi cũng chưa thể khẳng định có tốt hay không vì mới ở giai đoạn đầu – thì chúng tôi có thể triển khai trên diện rộng tất cả các bệnh nhân tái khám ở bệnh viện. Họ có thể cài đặt ứng dụng này trong điện thoại thông minh để sử dụng trong việc hẹn tái khám, theo dõi trong quá trình điều trị và đặc biệt sẽ có một hồ sơ bệnh án riêng cho mỗi bệnh nhân. Như vậy khi tái khám sẽ rất thuận lợi cho việc khám chữa bệnh của bác sĩ" ông Nguyễn Lân Hiếu nói.

     Vẫn theo ông Nguyễn Lân Hiếu, Bệnh viện Đại học Y Hà Nội sẽ phải sẽ cập nhật thông tin qua các buổi huấn luyện, học tập cách sử dụng cũng như làm quen với việc không khám trực tiếp cho người bệnh mà phải sử dụng các công cụ hỗ trợ. Bệnh viện Đại học Y Hà Nội sẽ xây dựng những quy trình chặt chẽ về chuyên môn, tránh trường hợp bỏ sót chẩn đoán khi chúng ta không trực tiếp thăm khám được. 

Nguồn: ictnews.vietnamnet.vn

 

Hướng dẫn lựa chọn và sử dụng khẩu trang phòng, chống dịch Covid-19 cho từng đối tượng

Địa chỉ email này đang được bảo vệ từ spam bots. Bạn cần bật JavaScript để xem nó.

Hướng dẫn thực hiện Chỉ thị 16/CT-TTg về cách ly xã hộiCẩn trọng khi mua, sử dụng khẩu trangNên bỏ khẩu trang đúng chỗ

(HNMO) - Ngày 13-4, Bộ Y tế phối hợp với Thông tấn xã Việt Nam xây dựng và cho ra mắt các infographic về việc hướng dẫn tạm thời lựa chọn và sử dụng khẩu trang cho từng đối tượng, từng trường hợp cụ thể để phòng, chống dịch Covid-19.

Các infographic gồm: Nguyên tắc sử dụng khẩu trang; hướng dẫn sử dụng khẩu trang; sử dụng khẩu trang tại cộng đồng; sử dụng khẩu trang tại khu vực nhập cảnh; sử dụng khẩu trang tại khu vực cách ly tập trung; sử dụng khẩu trang của đội phản ứng nhanh; sử dụng khẩu trang tại khoa, phòng khám bệnh; sử dụng khẩu trang tại cơ sở điều trị nội trú. 

 

Trang 1 của 6