Tin chuyên môn |#ffcc00

Tin chuyên môn |#ffcc00 (262)

1/2 số người nhiễm Omicron có thể không biết bản thân bị nhiễm bệnh

 

SKĐS - Kết quả nghiên cứu mới đây đăng trên Tạp chí JAMA Network Open cho thấy, hầu hết những người nhiễm biến thể Omicron có các triệu chứng nhẹ đến mức họ không biết mình đã nhiễm bệnh.

Bạn có phải là một trong những người nghĩ rằng ai đó đã thoát được sự lây nhiễm COVID-19 một cách thần kỳ trong hơn 2 năm diễn ra đại dịch? Điều này có thể sai lầm vì kết quả nghiên cứu mới đây đăng trên Tạp chí JAMA Network Open cho thấy, hầu hết những người nhiễm biến thể Omicron có các triệu chứng nhẹ đến mức họ không biết mình đã nhiễm bệnh.

Nhiều người không nghĩ rằng mình bị mắc COVID-19

Các nhà nghiên cứu cho biết 56% số người nhiễm SARS-CoV-2 không biết bản thân bị mắc COVID-19. Các nghiên cứu trước đây đã cho thấy có tới 80% số người mắc COVID-19 không có biểu hiện triệu chứng.

Trong nghiên cứu mới, các nhà khoa học đã lấy mẫu máu của các nhân viên y tế, và vào năm 2021, họ cũng đã thu thập mẫu máu của bệnh nhân. Tổng số thu được gần 2.500 mẫu máu của nhân viên y tế và bệnh nhân vào thời điểm ngay trước hoặc sau khi bùng phát lây nhiễm biến thể Omicron.

Kết quả cho thấy, 210 người được xác định bị nhiễm biến thể Omicron, nhưng chỉ 44% trong số này biết rằng mình đã bị mắc COVID-19. Trong số những người không biết bản thân bị mắc COVID-19, chỉ 10% cho biết họ có các triệu chứng nhẹ mà họ nghĩ rằng đó là cảm lạnh thông thường hoặc nhiễm trùng khác.

 

 1

Biến thể Omicron gây các đợt bùng phát lây nhiễm mạnh.

Trưởng nhóm nghiên cứu, TS. Susan Cheng tại Viện tim Smidt thuộc Trung tâm y tế Cedars-Sinai ở Los Angeles (Mỹ), cho biết: "Hơn một nửa số người bị nhiễm biến thể Omicron không biết về tình trạng mắc COVID-19 của họ. Trong hầu hết các trường hợp, họ có triệu chứng nhẹ hoặc không biểu hiện triệu chứng. Trong một số trường hợp có các triệu chứng nhẹ, thì những triệu chứng này thường được nghĩ tới một số nguyên nhân khác như cảm lạnh thông thường".

 

Số ca nhiễm Omicron thực tế nhiều hơn số ca đã được báo cáo

Các nhà nghiên cứu cho biết: "Kết quả nghiên cứu mới này giúp xác nhận những gì chúng tôi đã nghi ngờ trong một thời gian, đó là nhiều trường hợp mắc COVID-19 không được phát hiện - một phần vì không có biểu hiện triệu chứng và một phần là do khó khăn trong việc tiếp cận sử dụng xét nghiệm chẩn đoán".

"Hầu hết những người mắc COVID-19 đã không biết về tình trạng nhiễm bệnh của họ, đặc biệt là trong các đợt bùng phát lây nhiễm mạnh của đại dịch COVID-19" – các nhà nghiên cứu cho biết thêm.

Chuyên gia về bệnh truyền nhiễm, GS.TS Marc Siegel tại Trung tâm y tế NYU Langone ở Thành phố New York (Mỹ), cho biết: "Nghiên cứu mới cho thấy rõ ràng COVID-19 đã có thể gây lây nhiễm nhiều người hơn những gì đã được báo cáo".

TheoTS. Marc Siegel: "Có rất nhiều trường hợp mắc COVID-19 có triệu chứng nhẹ, rất nhẹ hoặc không có triệu chứng mà không nhận ra tình trạng nhiễm bệnh, và cũng có nghĩa là chúng ta đang nhận được nhiều khả năng miễn dịch đối với biến thể này. Điều đó có thể giúp giải thích bức tranh tổng thể về hiện trạng của đại dịch, đó là có rất nhiều trường hợp mắc COVID-19 nhẹ, nhưng cũng có những trường hợp nặng".

Biện pháp để giải quyết đại dịch

 

Nên tiêm phòng đầy đủ để phòng bệnh COVID-19.

Theo TS. Susan Cheng, để có thể chiến thắng đại dịch, điều quan trọng là mọi người phải nhận thức rằng họ có thể bị mắc COVID-19 mà không biểu hiện bất kỳ triệu chứng nào hoặc chỉ có các triệu chứng nhẹ, nhưng vẫn có thể gây lây nhiễm cho những người khác.

"Nâng cao nhận thức về nguy cơ lây nhiễm virus có thể giúp ích rất nhiều trong việc hạn chế sự lây lan COVID-19 đang diễn ra trong cộng đồng của chúng ta. Bởi vì tỷ lệ nhận thức đúng về lây nhiễm COVID-19 có vẻ chưa cao, nên cần tiến hành nhiều hoạt động cải thiện vấn đề này. Giờ đây, chúng ta đã có nhiều công cụ để có thể đạt được điều đó và hy vọng chúng ta sẽ vượt qua đại dịch này nhanh hơn" - Susan Cheng nhấn mạnh.

TS. Marc Siegel cho rằng: "Điều đặc biệt quan trọng là hiện nay chúng ta đã nhận biết được mức độ lây truyền dễ dàng của SARS-CoV-2. Khi thấy có thêm 100.000 trường hợp nhiễm mới mỗi ngày thì trên thực tế có thể có 1 triệu trường hợp nhiễm mới. Bên cạnh đó, sự kết hợp giữa khả năng miễn dịch nhận được sau mắc COVID-19 và khả năng miễn dịch nhận được từ tiêm chủng có thể giúp kìm chân đại dịch".

Theo các nhà khoa học, tiêm chủng đóng vai trò rất quan trọng trong việc ngăn ngừa tình trạng bệnh nặng, đặc biệt là những đối tượng có nguy cơ cao mắc COVID-19 nghiêm trọng. Và họ hy vọng sẽ sớm có các loại vaccine mới hiệu quả hơn so với vaccine hiện tại, bao gồm vaccine đường mũi và vaccine phòng virus corona phổ rộng.

 

BS. Tài Văn

(Theo HealthDay)

 Nguồn tin: https://suckhoedoisong.vn/1-2-so-nguoi-nhiem-omicron-co-the-khong-biet-ban-than-bi-nhiem-benh-169220818200054207.htm

Thứ năm, 18 Tháng 8 2022 09:35

6 điều cần biết về thuốc kháng sinh

Written by

6 điều cần biết về thuốc kháng sinh

SKĐS - Kể từ khi ra đời, thuốc kháng sinh đã nổi lên như một trong những nhóm thuốc quan trọng nhất. Nhưng thuốc chỉ mang lại hiệu quả điều trị khi dùng đúng, dùng trúng. Dưới đây là những điều bạn cần biết khi dùng thuốc kháng sinh...

1. Thuốc kháng sinh là gì?

Thuốc kháng sinh là dược phẩm được phát triển để nhắm mục tiêu và chống lại các bệnh nhiễm trùng. Trong số các chất chống vi khuẩn, kháng sinh thường được định nghĩa là bất kỳ tác nhân hóa trị liệu nào có khả năng ức chế hoặc tiêu diệt vi khuẩn (kìm khuẩn hoặc diệt khuẩn).

Kể từ khi được giới thiệu lâm sàng vào những năm 1950, thuốc kháng sinh đã nổi lên như một trong những nhóm thuốc quan trọng nhất. Tuy nhiên, với sự xuất hiện liên tục của các mầm bệnh đa kháng, kháng thuốc đe dọa đến việc chăm sóc sức khỏe bền vững và việc điều trị hiệu quả.

Mặc dù thuốc kháng sinh đã thay đổi việc điều trị các bệnh nhiễm trùng và giảm đáng kể thời gian nhiễm trùng cũng như tỷ lệ mắc bệnh và tử vong liên quan, việc kê đơn quá mức và lạm dụng các loại thuốc này trong y tế và nông nghiệp đã làm tăng tỷ lệ phát triển và lan truyền các quần thể vi sinh vật kháng thuốc. Vấn đề này được coi là quan trọng đến mức nhiều chuyên gia cho rằng giá trị của các liệu pháp kháng sinh hiện có trong 100 năm tới là không chắc chắn.

Khi thuốc kháng sinh lần đầu tiên được giới thiệu, Alexander Fleming, người đoạt giải Nobel cho việc phát hiện ra penicillin, cũng đã cảnh báo vào năm 1945 rằng việc lạm dụng thuốc có thể dẫn đến việc chọn lọc vi khuẩn kháng thuốc.

 

 

Thuốc kháng sinh điều trị các bệnh nhiễm trùng do vi khuẩn.

Để tối ưu hóa hiệu quả của thuốc và giảm cơ hội tạo ra một chủng vi khuẩn kháng thuốc, chúng ta phải sử dụng thuốc kháng sinh có trách nhiệm. Thuốc phải được dùng đúng thuốc, đúng lúc, đúng liều trong thời gian thích hợp.

2. Cách thức hoạt động của thuốc kháng sinh

Thuốc kháng sinh có tác dụng điều trị vi khuẩn theo hai cách: Diệt khuẩn gây chết tế bào vi khuẩ và kìm khuẩn ngăn chặn sự phát triển và sinh sản của vi khuẩn.

Ví dụ, kháng sinh diệt khuẩn như penicillin và amoxicillin gây ra sự phân hủy thành tế bào vi khuẩn dẫn đến chết tế bào. Thuốc kháng sinh như erythromycin và clarithromycin chủ yếu ngăn vi khuẩn tổng hợp protein, ngăn chặn sự phát triển của chúng.

Thuốc kháng sinh bắt đầu hoạt động ngay sau khi một người dùng chúng. Mỗi loại kháng sinh có thể tồn tại trong cơ thể trong khoảng thời gian khác nhau, nhưng các loại thuốc kháng sinh thông thường như amoxicillin và ciprofloxacin sẽ tồn tại trong cơ thể khoảng 24 giờ sau khi dùng liều cuối cùng. Những người bị suy giảm chức năng thận có thể mất nhiều thời gian hơn để đào thải thuốc khỏi cơ thể.

Thuốc kháng sinh có nhiều dạng, từ viên nang, viên nhai, bột pha hỗn dịch lỏng, công thức tiêm tĩnh mạch, kem và thuốc mỡ và chỉ được bán theo đơn của bác sĩ.

Bác sĩ kê đơn lựa chọn một loại kháng sinh cụ thể và đường dùng của nó dựa trên một số yếu tố, như loại và mức độ nhiễm trùng. Đôi khi cần phải phân tích bệnh phẩm để xác định chính xác loài và chủng vi khuẩn gây nhiễm trùng.

Thuốc kháng sinh thường không ảnh hưởng đến các tế bào của con người, đó là lý do tại sao kháng sinh an toàn để sử dụng làm thuốc. Tuy nhiên, giống như tất cả các loại thuốc, một số người cũng có thể gặp phản ứng hoặc có tác dụng phụ từ thuốc kháng sinh. 

3. Lạm dụng thuốc kháng sinh là gì?

Tổ chức Y tế Thế giới coi kháng thuốc kháng sinh là một trong những mối đe dọa lớn nhất đối với sức khỏe toàn cầu, vì nó đặt những thành tựu của y học hiện đại vào tình trạng nguy hiểm, biến những căn bệnh có thể chữa khỏi thành những căn bệnh chết người. Việc lạm dụng kháng sinh là yếu tố chính dẫn đến tình trạng này.

Việc lạm dụng thuốc kháng sinh là dùng thuốc kháng sinh khi chúng không phải là phương pháp điều trị chính xác, thúc đẩy tình trạng kháng thuốc kháng sinh. 

Theo Trung tâm Kiểm soát và Phòng ngừa Dịch bệnh Mỹ, khoảng 1/3 trường hợp sử dụng kháng sinh là không cần thiết cũng như không phù hợp.

Thuốc kháng sinh điều trị nhiễm trùng do vi khuẩn gây ra nhưng không điều trị các bệnh nhiễm trùng do virus gây ra (nhiễm virus). Ví dụ, thuốc kháng sinh là phương pháp điều trị chính xác cho chứng viêm họng do vi khuẩn gây ra, nhưng đây không phải là cách điều trị thích hợp cho hầu hết các bệnh viêm họng do virus.

Dùng thuốc kháng sinh để điều trị bệnh do nhiễm virus sẽ không chữa khỏi nhiễm trùng, không hạn chế khả năng lây lan của bệnh, có thể gây ra các tác dụng phụ không cần thiết và có hại, thúc đẩy kháng kháng sinh, phát triển tác dụng phụ của thuốc.

4. Tác dụng phụ của thuốc kháng sinh

Một trong những tác dụng phụ thường gặp khi dùng thuốc kháng sinh là đi tiêu phân lỏng (tiêu chảy), vì thuốc kháng sinh làm gián đoạn các vi khuẩn bình thường, khỏe mạnh trong đường ruột hoạt động bình thường. Đây là lí do, bác sĩ có thể chỉ định sử dụng men vi sinh sau khi điều trị bằng thuốc kháng sinh.

Nếu thấy có máu hoặc chất nhầy trong phân, hoặc đau bụng dữ dội hoặc chuột rút, cần đến gặp bác sĩ ngay lập tức để đánh giá xem có thể bị nhiễm trùng thứ phát, như C. difficile hay không…

 

 

Chỉ sử dụng thuốc kháng sinh khi được bác sĩ chỉ định.

5. Kháng thuốc kháng sinh và siêu vi khuẩn là gì?

Thuật ngữ kháng kháng sinh được định nghĩa là sự phát triển các phản ứng sinh lý thích ứng với tất cả các loại dược phẩm được sử dụng để tiêu diệt hoặc ức chế sự phát triển của vi sinh vật gây bệnh bao gồm kháng sinh.

Thuật ngữ "siêu vi khuẩn" đề cập đến bất kỳ vi sinh vật nào đã trở nên đề kháng với việc điều trị bằng các chất chống nhiễm trùng phổ biến mà trước đây có hiệu quả chống lại chúng. 

Các hậu quả của bệnh nhiễm trùng kháng thuốc bao gồm:

  • Bệnh nghiêm trọng hơn
  • Phục hồi lâu hơn
  • Thời gian nằm viện lâu hơn
  • Phương pháp điều trị tốn kém hơn

6. Thế nào là sử dụng thuốc kháng sinh có trách nhiệm?

Nhiễm trùng do vi khuẩn cần điều trị bằng thuốc kháng sinh. Nhưng để tối ưu hóa hiệu quả của thuốc và giảm cơ hội tạo ra một chủng vi khuẩn kháng thuốc, chúng ta phải sử dụng thuốc kháng sinh có trách nhiệm. Thuốc phải được dùng đúng thuốc, đúng lúc, đúng liều trong thời gian thích hợp.

Việc sử dụng kháng sinh hợp lý, có thể giúp:

  •  Đảm bảo hiệu quả của kháng sinh hiện tại;
  • Kéo dài tuổi thọ của thuốc kháng sinh hiện tại; 
  • Bảo vệ mọi người khỏi các bệnh nhiễm trùng kháng thuốc kháng sinh; 
  • Tránh tác dụng phụ do sử dụng kháng sinh không đúng cách.

Để giúp giảm sự phát triển của tình trạng kháng thuốc kháng sinh,cần:

Thường xuyên rửa tay bằng xà phòng và nước. Làm sạch bất kỳ vết cắt hoặc vết thương nào để tránh nhiễm trùng do vi khuẩn cần điều trị kháng sinh.

- Thực hiện tiêm chủng đầy đủ. 

- Giảm nguy cơ bị nhiễm trùng do vi khuẩn lây lan qua thực phẩm; rửa tay trước khi chế biến thức ăn và trước khi ăn; ăn chín, uống sôi.

- Chỉ sử dụng thuốc kháng sinh khi được bác sĩ chỉ định. Uống theo số lượng quy định hàng ngày. Hoàn thành liệu trình điều trị và thông báo cho bác sĩ nếu có bất kỳ tác dụng phụ nào.

- Không dùng thuốc kháng sinh được kê cho người khác hoặc để người khác dùng thuốc kháng sinh của mình.

- Điều quan trọng là sử dụng kháng sinh đúng cách, đúng liều, đúng thời điểm để làm chậm quá trình kháng kháng sinh.

Có rất ít kháng sinh mới trong quá trình phát triển, đó là lý do tại sao chúng ta phải sử dụng các loại kháng sinh hiện có một cách có trách nhiệm để đảm bảo những loại thuốc quan trọng này tiếp tục duy trì hiệu quả cho chính chúng ta và các thế hệ tương lai.

Ds. Vũ Thuỳ Dương

Nguồn tin: https://suckhoedoisong.vn/6-dieu-can-biet-ve-thuoc-khang-sinh-169220811131837838.htm

Khoa học chỉ ra cách đo huyết áp đúng mà hàng triệu người đang làm sai

Đó là nên đo huyết áp cả 2 tay!

Các chuyên gia cho biết phương pháp hiện tại chỉ đo huyết áp 1 tay đã bỏ sót hàng triệu người mắc căn bệnh chết người này, theo nhật báo Anh Daily Mail.

 

Các nhà khoa học nói rằng các chỉ số huyết áp nên được thực hiện từ cả 2 cánh tay thay vì đo 1 tay

SHUTTERSTOCK

Huyết áp cao có thể gây ra đau tim và đột quỵ, 2 trong số những kẻ giết người lớn nhất thế giới.

Và việc đo huyết áp cả 2 tay đã phát hiện thêm 12% trường hợp huyết áp cao đã bị bỏ sót do đo 1 tay.

Nghiên cứu mới, được công bố trên tạp chí y khoa của Hiệp hội Tim mạch Mỹ Hypertension, đã phân tích sự khác biệt giữa việc đo huyết áp 2 tay, so với chỉ đo 1 tay.

Nghiên cứu, do tiến sĩ Christopher Clark, bác sĩ tại Đại học Exeter ở Devon (Anh), dẫn đầu, đã phân tích dữ liệu từ 53.172 người tham gia.

Tất cả các tình nguyện viên được đo huyết áp cả 2 tay, thay vì chỉ đo 1 tay.

Huyết áp 2 tay lệch trung bình 6,6mmHg

Kết quả, các nhà nghiên cứu đã phát hiện ra có sự chênh lệch trung bình là 6,6mmHg trong huyết áp tâm thu giữa 2 tay, theo Daily Mail.

Chỉ số huyết áp bao gồm huyết áp tâm thu và huyết áp tâm trương. Huyết áp tâm thu là chỉ số ở trên - phản ánh lực của tim khi bơm máu đi khắp cơ thể. Và huyết áp tâm trương là chỉ số ở dưới - đo áp suất khi tim nghỉ giữa các nhịp đập.

 

Khi tiến hành đo cả 2 tay, có đến 12% trường hợp đã được chuyển từ nhóm huyết áp bình thường sang nhóm mắc bệnh huyết áp cao - nghĩa là huyết áp trên 140mmHg

SHUTTERSTOCK

Nếu 1 trong 2 số này quá cao, đều có thể gây căng thẳng cho các động mạch và các cơ quan chính.

Tuy nhiên, các bác sĩ thường quan tâm nhiều hơn đến số chỉ số tâm thu ở trên.

Phát hiện thêm 12% trường hợp huyết áp cao bị bỏ sót do đo 1 tay

Khi tiến hành đo cả 2 tay, gần 6.500 người tham gia - tương đương hơn 12%, đã được chuyển từ nhóm huyết áp bình thường sang nhóm mắc bệnh huyết áp cao - nghĩa là huyết áp trên 140mmHg.

Sự khác biệt huyết áp giữa 2 tay có thể do các động mạch bị tắc nghẽn.

Tiến sĩ Clark cho biết: Huyết áp cao là vấn đề toàn cầu và việc quản lý kém có thể gây tử vong.

Việc không đo cả 2 tay sẽ dẫn đến không chỉ chẩn đoán sai và điều trị sai bệnh, mà còn đánh giá thấp các nguy cơ đối với hàng triệu người trên toàn thế giới.

Không thể nói chính xác nên đo huyết áp ở tay nào, vì một số người có số đo ở tay trái cao hơn tay phải và một số người thì ngược lại.

Do đó, điều quan trọng là phải kiểm tra cả 2 tay, ông nhấn mạnh, theo Daily Mail.

Ông nói thêm: Phát hiện chính xác huyết áp cao là bước quan trọng để đưa ra đúng phương pháp điều trị cho đúng người.

Mặc dù các hướng dẫn quốc tế khuyên nên đo huyết áp cả 2 tay, phương pháp này hiện không được áp dụng rộng rãi tại các phòng khám.

Các chuyên gia cho biết chỉ có khoảng một nửa số bác sĩ đo huyết áp 2 tay, thường là do thời gian hạn chế hoặc công việc bận rộn.

Nguồn tin: https://thanhnien.vn/khoa-hoc-chi-ra-cach-do-huyet-ap-dung-ma-hang-trieu-nguoi-dang-lam-sai-post1485445.html

Triệu chứng đậu mùa khỉ khác tay chân miệng, thủy đậu thế nào

Đậu mùa khỉ, chân tay miệng và thủy đậu đều gây ra các triệu chứng ngoài da song đặc điểm khác nhau, cần phân biệt, xác định bệnh sớm để tránh diễn biến nặng.

  

Nguồn: Bộ Y tế - Đồ họa:Tạ Lư

Nguồn tin: https://vnexpress.net/trieu-chung-dau-mua-khi-khac-tay-chan-mieng-thuy-dau-the-nao-4495599.html

[Infographic] Khuyến cáo phòng chống bệnh đậu mùa khỉ

26-07-2022 10:58 AM | Y tế

SKĐS - Để chủ động phòng chống dịch bệnh đậu mùa khỉ ở nước ta, Bộ Y tế khuyến cáo người dân chủ động thực hiện các biện pháp phòng bệnh sau:

 

Nguồn: Bộ Y tế

Đọc bài chi tiết tại link sau:

Nguồn tin: https://suckhoedoisong.vn/infographic-khuyen-cao-phong-chong-benh-dau-mua-khi-169220726104331741.htm

Dấu hiệu phân biệt nhiễm cảm lạnh, cúm mùa và COVID-19

29-03-2020 7:05 AM | Bệnh thường gặp

SKĐS - Dịch bệnh COVID-19 do virus SARS-COV-2 gây ra đang là sự quan tâm lớn của nhiều người.

Do đều là các bệnh do virus gây ra, vì vậy, khi mới mắc bệnh cảm lạnh, cúm mùa và COVID-19 có một vài dấu hiệu tương đồng. Trong mùa dịch COVID-19, mọi người cần có kiến thức để phân biệt dấu hiệu khi nhiễm cảm lạnh, cảm cúm và COVID-19 để biết cách phòng bệnh và tránh hoang mang.

Cách phân biệt cảm lạnh và cúm mùa

Bệnh cúm mùa (hay còn gọi là cảm cúm) chủ yếu do virus cúm A, B gây ra. Các chủng virus cúm đang hoạt động thay đổi theo từng năm. Đó là lý do vì sao mọi người nên tiêm ngừa vắc-xin cúm mỗi năm. Những đối tượng dễ mắc bệnh cúm gồm: trẻ dưới 5 tuổi hay người cao tuổi trên 65 tuổi. Phụ nữ đang có thai. Trường hợp mắc bệnh mạn tính kéo dài: bệnh hô hấp như hen, COPD, bệnh tim mạch như suy tim, bệnh gan, bệnh đái tháo đường... Trong hầu hết các trường hợp, những người bệnh bị cúm sẽ khỏi trong 5-7 ngày. Tuy nhiên, nếu không được điều trị đúng cách, bệnh cúm có thể gây ra nhiều biến chứng nguy hiểm như viêm xoang, viêm phế quản, viêm phổi...

Có thể phân biệt nhiễm cảm lạnh, cúm mùa và COVID-19 qua các dấu hiệu đặc trưng.

Có thể phân biệt nhiễm cảm lạnh, cúm mùa và COVID-19 qua các dấu hiệu đặc trưng.

Các triệu chứng cúm bao gồm: Khô rát cổ họng; Sốt từ vừa đến cao 39 - 400C, trẻ nhỏ bị cúm sốt kéo dài tới 3-4 ngày; Viêm họng; Cảm thấy rùng mình ớn lạnh; Đau nhức các cơ; Đau đầu; Nghẹt mũi và chảy nước mũi; Mệt mỏi kéo dài trên 2 tuần; Buồn nôn và nôn (phổ biến nhất ở trẻ em). Thời gian ủ bệnh cúm kéo dài 1 - 4 ngày, thời kỳ lây: có thể bắt đầu trước khi sốt 1 ngày, kéo dài tới 7 ngày ở người lớn.

Tác nhân gây ra bệnh cảm lạnh: Thường là các loại virus thuộc chủng Rhinovirus hoặc Enterovirus. Triệu chứng của cảm lạnh cũng có mức độ ít nghiêm trọng hơn so với các triệu chứng gây ra do cúm. Khi bị cảm lạnh, thân nhiệt của người bệnh thường không tăng nhiều, ít có khả năng bị sốt, nếu có sốt thì sẽ sốt nhẹ. Chảy nước mũi hoặc nghẹt mũi, viêm họng, hắt xì, ho, nhức đầu hoặc đau cơ thể, mệt mỏi nhẹ. Các triệu chứng của cảm lạnh thường biểu hiện từ từ, cơ thể mệt mỏi khoảng 3-4 ngày và tự hết trong vòng 7-10 ngày.

Cả hai bệnh cúm mùa và cảm lạnh đều là bệnh thường gặp với các triệu chứng tương tự nhau như sốt, viêm hô hấp trên... nhưng diễn tiến của bệnh có nhiều khác biệt cần theo dõi để xử trí phù hợp.

Dấu hiệu đặc trưng khi mắc COVID-19

Khoảng 2-14 ngày sau khi virus SARS-COV-2 xâm nhập cơ thể, người bệnh sẽ xuất hiện các triệu chứng điển hình như:

Ho khan, đau họng: Ho khan, thậm chí có đờm đặc và bọt, khả năng cao là dấu hiệu của viêm phổi. Đây chính là một trong những triệu chứng khá nghiêm trọng và phổ biến của COVID-19. Ho do nhiễm virus SARS-COV-2 sẽ không khỏi khi uống thuốc trị ho thông thường. Do vậy, nếu thấy ho nhiều, kéo dài, đừng chủ quan, hãy đi khám ngay.

Cảm thấy khó thở: Triệu chứng này xuất hiện ở đa số các trường hợp mắc COVID-19. Virus này gây ảnh hưởng trực tiếp đến phổi, kiểm soát hệ hô hấp dẫn đến triệu chứng khó thở, tức ngực... Nếu bạn bị ho kèm cảm thấy khó thở thì khả năng nhiễm COVID-19 là rất cao. Lúc này, bạn nên đến bệnh viện kịp thời trước khi bệnh tình trở nên trầm trọng.

Sốt: Không phải tất cả người nhiễm virus SARS-COV-2 đều bị sốt. Tuy nhiên, sốt cũng được coi là dấu hiệu, căn cứ để sàng lọc các trường hợp nghi mắc bệnh. Mức độ sốt ở nhiều người nhiễm bệnh có thể khác nhau. Có những người thân nhiệt tăng cao trên 39,50C nhưng một số người chỉ bị sốt nhẹ.

Sự khác nhau giữa triệu chứng COVID-19 và cảm lạnh, cảm cúm

Thời gian khởi phát của 3 bệnh này không nhất quán. Cảm lạnh xảy ra quanh năm, không có tính thời vụ rõ ràng. Mặc dù cúm cũng có thể xảy ra trong suốt cả năm, nhưng mùa có tỷ lệ mắc bệnh cao chủ yếu là mùa đông và mùa xuân. COVID-19 là bệnh mới khởi phát gần đây vào mùa đông năm 2019.

Nếu như cảm lạnh, cảm cúm thông thường không gây ra những nhiễm trùng nghiêm trọng, cơ thể sẽ dần hồi phục khi được điều trị bằng thuốc theo đúng chỉ định của bác sĩ hoặc uống thuốc cảm tại nhà. Thậm chí, nhiều trường hợp không cần dùng thuốc, chỉ nghỉ ngơi và uống đủ nước, bệnh cảm lạnh, cúm mùa sẽ thuyên giảm trong vòng 3-7 ngày. Tuy nhiên, nếu bị mắc COVID- 19, mức độ biểu hiện sẽ nặng nề. Việc uống thuốc thông thường không làm tình trạng bệnh đỡ hơn bởi hiện nay chưa có thuốc trị virus SARS- COV-2 mà chỉ điều trị giảm nhẹ triệu chứng bệnh. Ngoài dấu hiệu thân nhiệt tăng cao bất thường, virus tấn công mạnh vào hệ hô hấp, gây viêm phổi dẫn đến tình trạng thiếu oxy, khó thở rõ rệt. Ðây là dấu hiệu đặc trưng mà cảm lạnh, cảm cúm thông thường không có.

Trong trường hợp gặp các dấu hiệu bệnh, mọi người hãy bình tĩnh phân biệt và không nên chủ quan. Tốt nhất là nên tới bác sĩ để được xét nghiệm kịp thời, chính xác nhất. Tổ chức Y tế Thế giới cũng khuyến cáo những người bị ho dai dẳng, sốt và cảm thấy khó thở nên đi khám sớm nhất có thể.

 BS. Trần Anh

 Nguồn tin: https://suckhoedoisong.vn/dau-hieu-phan-biet-nhiem-cam-lanh-cum-mua-va-covid-19-169170701.htm

Cúm mùa: Dấu hiệu nhận biết và cách phòng ngừa

24-07-2022 9:39 AM | Y học 360

SKĐS - Nhiều người thường lo lắng không biết cúm mùa có biểu hiện như thế nào và sẽ gây những biến chứng gì?

Vì sao cúm mùa dễ lây lan?

Bệnh cúm là một bệnh truyền nhiễm do virus cúm tấn công hệ hô hấp của người bệnh. Đối với hầu hết mọi người, cúm sẽ tự khỏi. Nhưng đôi khi, cúm và các biến chứng của nó có thể gây tử vong ở những đối tượng có nguy cơ cao khi bị biến chứng cúm.

Cúm mùa có xu hướng lan rộng thành dịch và có khả năng lây nhiễm rất cao qua đường hô hấp, qua các giọt nhỏ nước bọt hay dịch tiết mũi họng do hắt hơi.

Nguyên nhân của bệnh cúm là do Virus cúm (Influenza virus), virus này liên tục biến chủng, biến thể. Những biến đổi nhỏ liên tục gây nên các vụ dịch vừa và nhỏ. Khi những biến đổi nhỏ dần tích tụ lại thành những biến đổi lớn, tạo nên type kháng nguyên mới, đó là do sự tái tổ hợp giữa các chủng virus cúm động vật và cúm người. Những phân type kháng nguyên mới này sẽ gây dịch lớn.

Cúm mùa: Các dấu hiệu và biến chứng của bệnh - Ảnh 2.

Những triệu chứng lâm sàng thường gặp ở người bị bệnh cúm.

Biểu hiện và những biến chứng của cúm mùa

Dấu hiệu cảm cúm diễn tiến từ nhẹ đến nặng và có thể dẫn đến tử vong. Khác với cảm lạnh, cúm thường xuất hiện đột ngột. 

Người bị cúm thường biểu hiện một số hoặc tất cả các triệu chứng như sốt, cảm thấy sốt, ớn lạnh, ho, đau họng, chảy nước mũi hoặc nghẹt mũi, đau cơ, đau đầu, mệt mỏi. Ở trẻ em có thể bị nôn mửa và tiêu chảy.

Bệnh cảm cúm lây lan chủ yếu qua các hạt nước bọt do người bệnh bắn vào không khí. Khoảng thời gian virus cúm phát tán thường bắt đầu trước khi người bệnh cảm thấy không khỏe hoặc chỉ xuất hiện một vài triệu chứng đầu tiên.

Mặc dù có những biểu hiện nhẹ và phổ biến, nhưng nếu chủ quan thì sẽ dễ dẫn đến những biến chứng bệnh cúm vô cùng nguy hiểm.

Khi bệnh cúm chuyển nặng sẽ dẫn đến suy hô hấp, viêm phổi, hen phế quản, suy tim, đái tháo đường, bệnh mạch vành, suy giảm miễn dịch, viêm tai giữa, viêm xoang, viêm nhiễm đường tiết niệu... trẻ em và người già trên 65 tuổi là đối tượng dễ gặp biến chứng nhất.

Đối với phụ nữ mang thai, biến chứng bệnh cúm có thể gây ra những biến chứng nguy hiểm trong 3 tháng đầu như sảy thai hoặc bệnh lý thai nhi.

Cúm thông thường là bệnh lành tính và thường tự khỏi sau 5 - 7 ngày, không có thuốc điều trị bệnh cúm đặc hiệu nhưng người bệnh có thể điều trị triệu chứng của bệnh bằng một số loại thuốc theo chỉ dẫn của bác sĩ như: Giảm triệu chứng sốt, đau đầu, đau họng… Nếu các triệu chứng của cảm cúm kéo dài hơn một tuần, bệnh nhân sốt cao kéo dài, sử dụng các thuốc hạ sốt thông thường không đỡ, ho nhiều, tức ngực, khó thở, đau nhức, mệt mỏi tăng thì nên đến các cơ sở y tế để theo dõi, điều trị kịp thời.

Các dấu hiệu và biến chứng của bệnh cúm:

Sốt cao 39 độ C – 40 độ C.

Nhức đầu, đau nhức toàn thân.

Ho dữ dội, suy nhược nặng, tiêu chảy, nôn ói...

Một số trường hợp bệnh có thể dẫn đến những biến chứng nặng nề như: Viêm phổi tim mạch, nhiễm trùng huyết... gây đe dọa tính mạng của nhiều người.

 

Bệnh cúm là bệnh truyền nhiễm do virus cúm tấn công hệ hô hấp của người bệnh.

Lời khuyên của thầy thuốc

Virus cúm có khả năng lây lan trực tiếp từ người này sang người khác, vì vậy mỗi người cần chủ động phòng ngừa bệnh cúm bằng các biện pháp sau:

- Rửa tay thường xuyên với xà phòng và nước.

- Lau chùi thường xuyên các bề mặt tiếp xúc hay các vật dụng có thể bị lây nhiễm bệnh cúm.

- Xây dựng chế độ ăn cân bằng chất dinh dưỡng, ăn uống đúng giờ.

- Tập thể dục hàng ngày, rửa tay trước và sau khi ăn cũng như mỗi khi ở ngoài về nhà, bàn tay sạch là một trong các biện pháp quan trọng để ngừa cúm.

- Bệnh cúm mùa được dự phòng bằng cách tiêm chủng vaccine phòng bệnh cúm.

 

Để chủ động phòng ngừa bệnh cúm cần rửa tay thường xuyên với xà phòng và nước.

BS. Nguyễn Thị Khánh ( Bệnh viện 103)

Nguồn tin: https://suckhoedoisong.vn/cum-mua-dau-hieu-nhan-biet-va-cach-phong-ngua-169220723225542328.htm

Đặc trưng nhiễm BA.5 là sổ mũi, rát họng, trong khi triệu chứng điển hình của cúm A là sốt cao trên 38,5 độ C, mỏi cơ; xuất huyết dưới da nếu mắc sốt xuất huyết.

Cúm A

Nguồn: https://vnexpress.net/

Sốt xuất huyết và Covid-19 đều là các bệnh truyền nhiễm nguy hiểm gây dịch do virus. Hai bệnh tuy triệu chứng ban đầu giống nhau nhưng có những điểm đặc trưng riêng.

Sốt xuất huyết 1 min

Nguồn: https://www.nguoiduatin.vn/

Thứ năm, 07 Tháng 7 2022 04:23

Hai yêu cầu khẩn của WHO trong sóng Covid-19 mới

Written by

Hai yêu cầu khẩn của WHO trong sóng Covid-19 mới

Tiêm vaccine liều tăng cường và cung cấp thuốc kháng virus cho người dân là yêu cầu khẩn của WHO khi nhiều quốc gia đang đối mặt với làn sóng Covid mới.

Tuyên bố được đưa ra trong buổi họp hàng tuần về vấn đề Covid-19 tại Geneva, Thụy Sĩ, hôm 6/7.

Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), số ca mắc Covid-19 toàn cầu đã tăng gần 30% trong hai tuần qua. Tại châu Âu và châu Mỹ, BA.4 và BA.5 đang tạo nên làn sóng mới.

Australia và New Zealand cũng cảnh báo nguy cơ bùng phát dịch với số ca đang gia tăng và nhiều biến thể đồng thời xuất hiện. Trung bình trong 7 ngày qua, số ca nhiễm mới tại New Zealand là 7.200 người/ngày, tăng so với mức 5.400 người/ngày trong giai đoạn 7 ngày trước đó. Đây là mức thống kê cao nhất trong hơn một tháng qua ghi nhận tại quốc gia này.

Trong khi đó, ngày 4/7, Trung Quốc phong tỏa tỉnh An Huy với khoảng 1,7 triệu dân sau khi giới chức y tế ghi nhận gần 300 ca Covid.

Các quốc gia Đông Nam Á cũng chứng kiến số ca mắc mới gia tăng, một số nước như Indonesia yêu cầu người dân phải tiêm mũi vaccine tăng cường mới được đến nơi công cộng.

Giám đốc WHO Tedros Adhanom Ghebreyesuscho biết trong đợt dịch mới, thế giới đứng trước 4 thách thức lớn, có thể khiến Covid-19 lây lan nhanh.

Thứ nhất, tỷ lệ xét nghiệm đã giảm tại nhiều quốc gia. Điều này khiến các nước không có cái nhìn hoàn chỉnh về sự phát triển của virus và gánh nặng bệnh tật thực sự trên toàn cầu. Từ đó giới y khoa không thể đưa ra các biện pháp điều trị đủ sớm để ngăn ngừa các ca nhiễm nghiêm trọng và tử vong.

Tiếp theo, các phương pháp điều trị mới, đặc biệt là thuốc kháng virus tiềm năng chưa đến tay người dân tại các nước thu nhập thấp.

Thứ ba, khi virus phát triển, khả năng bảo vệ của vaccine sẽ suy yếu. Miễn dịch cơ thể suy giảm nhấn mạnh tầm quan trọng của các liều vaccine tăng cường, đặc biệt với nhóm có nguy cơ cao nhất.

Cuối cùng, các đợt bùng phát mới khiến số người mắc Covid-19 kéo dài tăng lên. Điều này ảnh hưởng đến các bệnh nhân và gia đình họ, đồng thời tạo thêm gánh nặng cho hệ thống y tế và kinh tế, xã hội nói chung.

"Những thách thức này đòi hỏi các hành động ở cấp độ toàn cầu, quốc gia và địa phương. Chính phủ, giới khoa học, các nhà sản xuất, WHO và chính người dân đều có các vai trò cụ thể", ông Tedros cho biết.

Từ những thách thức trên, WHO nêu hai yêu cầu khẩn cấp trong làn sóng dịch bệnh mới là tiêm chủng và phân phối thuốc kháng virus nhanh chóng, đầy đủ cho người dân.

Ông Tedros lưu ý các nước tập trung tiêm liều tăng cường cho những người có nguy cơ lây nhiễm cao nhất, bao gồm người lớn tuổi, người mắc bệnh mạn tính, bị suy giảm miễn dịch.

Tiếp theo, các nước cần cung cấp đủ thuốc kháng virus đường uống mới và các phương pháp điều trị khác cho người dân. Ông Tedros hối thúc các nhà sản xuất, trong đó có hãng dược Pfizer, hợp tác chặt chẽ với cơ quan y tế và giới chức các nước để đảm bảo cung cấp thuốc nhanh chóng và hiệu quả.

WHO cũng kêu gọi người dân tại các vùng dịch bệnh gia tăng thực hiện các biện pháp y tế cộng đồng như đeo khẩu trang, tự cách ly khi dương tính, đẩy mạnh xét nghiệm tại nhà và tiêm chủng đầy đủ.

Tổng giám đốc WHO Tedros Adhanom Ghebreyesus trong buổi họp tại Geneva, Thụy Sĩ. Ảnh: Reuters

Thục Linh (Theo WHO)

Nguồn tin: https://vnexpress.net/hai-yeu-cau-khan-cua-who-trong-song-covid-19-moi-4484687.html